i. Lợi ích cho sự thông minh và ngoan ngoãn của trẻ nhỏ

Trẻ nhỏ có sẵn bản tính hồn nhiên và sự trong sáng do chưa nhiễm nhiều kiến thức, kinh nghiệm của cuộc sống nên khi tiếp cận Thiền Minh Triết sẽ giúp cho trẻ nhỏ tập trung trong học hành và kích hoạt khả năng quan sát xung quanh, lắng nghe và hay đặt ra những câu hỏi về những gì đang diễn ra trong bộ não và cuộc sống. Tập cho chúng thói quen lưu tâm thắc mắc về bộ não của chúng.

Tập cho các cháu tiểu học và nhất là trung học tập quan tâm đến sức mạnh tinh thần, tập thắc mắc về sự hình thành các ý tưởng trong đầu óc. Điều này vô cùng quan trọng! Tập như vậy, sau này các cháu có nhiều cơ hội vào trạng thái đại giác ngộ và đại trí tuệ sẽ được khai mở. Quá trình tập như thế cũng giúp phát triển khả năng tập trung của đầu óc, để các cháu học giỏi và sáng tạo trong học tập. Điều này giúp trẻ thông minh, học tốt và ngoan ngoãn. Và một kết quả rất tuyệt vời sau này là đầu óc các cháu sẽ luôn trong trạng thái tự do với các kiến thức. và tránh tất cả mọi nhiễm ô cho tâm hồn. Các cháu sẽ là người chủ sáng tuệ trên thế giới này, các cháu sẽ phát triển lòng thương rộng lớn với chính bản thân mình, với gia đình, với dân tộc, tổ quốc mình và nhân rộng ra toàn thế giới.

k. Lợi ích cho những bệnh hiểm nghèo và khủng hoảng tinh thần

Người mắc bệnh hiểm nghèo và khủng hoảng tinh thần thì mối lo lắng và sự quan tâm của họ là sức khỏe và sự bình an, những giấc ngủ ngon. Thiền Minh Triết với những phương pháp đơn giản như quan sát hơi thở, lắng nghe âm thanh của chính mình, tập lắng nghe và hiểu tình trạng làm việc hay lo lắng quá đáng của đầu óc sẽ giúp cho đầu óc phát triển nhẹ nhàn hơn sẽ giúp họ lưu thông máu huyết, tăng lượng oxy vào cơ thể. Các bài giảng pháp âm giúp họ nhận biết con người thật bên trong để biết chấp nhận thực tại, làm bạn với bệnh tật để giảm thiểu sức nặng tâm lý, sống an vui. Đó là phương pháp hữu hiệu hỗ trợ rất nhiều trong điều trị và an dưỡng của người bệnh.

l. Lợi ích đặc biệt cho những người khiếm thị

Người khiếm thị do không có khả năng nhìn thấy bên ngoài bằng mắt thịt và hay bị gieo vào tâm tưởng những ý tưởng về nghiệp chướng, nên thường sống bi quan, khép mình. Thiền Minh Triết bằng những bài giảng pháp âm, giúp họ nghe, thực hành và phá bỏ quan niệm về nghiệp chướng, về những ác mộng ảo huyền kiếp trước kiếp sau. Từ đó, khai thông dòng tâm thức của họ, họ biết kích hoạt và sử dụng các khả năng nhìn thấy của xúc giác, thính giác, tỷ giác, thính giác… Theo phương pháp này, họ sẽ lạc quan trong cuộc sống và có nhiều sáng tạo đặc biệt!

7. Hệ thống tiếp cận cho người học

Phương pháp Duy Tuệ được phát triển qua các hệ thống sau:

- Các bài giảng trực tuyến trên skype, qua hệ thống pháp âm, hệ thống bài viết trên trang web : daosuduytue.com; duytue.net và duytue.com;

- Qua những đầu sách của Đạo sư Duy Tuệ đã xuất bản do Nhà Xuất Bản Văn Hóa Thông Tin ấn hành, Trung tâm UNESCO Nghiên Cứu và Ứng Dụng Phật Học Việt Nam chịu trách nhiệm xuất bản như Những điều dạy về Phật của Trần Nhân Tông; Báu vật nhiệm màu, Thiền Minh Triết (bản tiếng Việt), Thiền Minh Triết ( bản song ngữ Việt – Anh, Việt – Pháp và tiếng Na Uy), Hành Trang Vào Đời, Khai Mở Đạo Tâm, Mở Rộng Tâm, Đừng Để Mất Thiên Đàng, Sống Minh Triết, Tình Thương Là Tài Sản Vô Giá, Hồi ký cuối thu…

- Qua 12 buổi phát thanh trong chương trình CLB Người Cao Tuổi – Đài tiếng nói Việt Nam.

- Qua những cuộc đời được đổi thay mà những người học đã và đang chia sẻ trải nghiệm hạnh phúc đích thực và không còn lang thang đi tìm đâu nữa.

- Được ứng dụng tại các CLB Trần Nhân Tông thuộc TT UNESCO NCUDPHVN, các Hội thiền Trần Nhân Tông tại Na Uy, Đan Mạch, Pháp, CH Séc, Úc, Mỹ…và đang được ứng dụng rộng rãi trong và ngoài nước.

8. Tạm kết luận

Trên đây là những điều đơn giản dễ hiểu mà chúng tôi cố gắng chia sẻ với quý vị. Sự thật thì khó có thể biên tập thành một chủ đề nào đó và cho rằng đầy đủ.

Chúng tôi không có ý cung cấp cho quý vị một số kiến thức để trở thành một thứ lý thuyết của Thiền Minh Triết hay con đường dẫn đến giải thoát vô minh cho con người.

Mọi sự hiểu biết chính xác và đầy đủ chỉ có thể phát triển qua sự trải nghiệm của chính mỗi người do áp dụng những bài thực tập hay các bí quyết. Giá trị sức mạnh của một con người rất lớn, nằm trong sự bừng sáng của cái đầu.

Cần biết cách kích hoạt cho cái đầu của mình làm việc.

Một con người mạnh là con người tìm cách kích hoạt sự làm việc của cái đầu. Có nhiều người tìm cách kích hoạt cái miệng, cái xúc, cái vị…kích hoạt cảm xúc cho sung sướng..chứ không kích hoạt cái đầu. Nếu chúng ta chọn cái đầu là mục tiêu để kích hoạt thì cảnh nào cũng là cảnh tốt. Đường lối của của phương pháp này là đi thẳng vào vấn đề. Không có thiên đàng trên thế giới này mà cũng chẳng có địa ngục ở dưới mặt đất. Các tôn giáo dùng thiên đàng để khuyến khích, dùng địa ngục để răn đe…dùng thiên đàng và địa ngục như là biện pháp giáo dục. Người Việt cần để cho tâm hồn người Việt thuần khiết trở lại.

Chúng ta bỏ hết tất cả và chỉ cần để lưu lại một là sự trống không – cội nguồn thuần khiết của con người, hai là tình yêu của chúng ta đối với mảnh đất nơi chúng ta sinh ra và lớn lên thì chúng ta mới trở thành con người có sức mạnh được.

Điều này không phải là phân biệt dân tộc hay là theo chủ nghĩa dân tộc. Bởi vì tình yêu của con người với mảnh đất nơi người đó sinh ra chính là cái gốc mà từ đó người ấy trang trải ra tình thương đối với nhân loại. Người nào mất cái gốc này, người ấy sẽ luôn luôn sống trong sự gian dối. Không phải người ra đi khỏi đất nước mà ngay cả những người đang sống trong đất nước nhiều khi cũng bị mất, mà thậm chí còn mất nhiều hơn. Người ra đi có nỗi nhớ nên khó mất, người ở lại do chủ quan nên rất dễ mất cái gốc của tình cảm này.

Vì lý do kinh tế, chính trị, tôn giáo… lấy điều kiện mình đang có để bóc lột người khác… mà đánh mất đi vẻ đẹp thiêng liêng – tình thương giữa con người với con người cùng trên mảnh đất chúng ta sinh ra.

Do đó chúng ta cần trở về cội nguồn yêu thương thuần khiết nơi mảnh đất chúng ta sinh ra. Đó là nền tảng tình cảm của mỗi con người để kích hoạt lòng yêu thương đối với nhân loại chứ không phải là chủ nghĩa dân tộc.

Tạo hóa cho chúng ta hai thứ tình cảm căn bản là tình thương máu mủ của người cha, người mẹ, người con và tình yêu của chúng ta đối với mảnh đất nơi chúng ta sinh ra và lớn lên để tạo nên động lực cho suối nguồn tình cảm tuôn chảy.

Tạo cho con người vốn liếng căn bản đầu tiên để từ đó con người trang trải ra cho thế giới. Đó là tình thương nguyên thủy. Từ tình thương này sẽ phát sinh ra vô lượng trí tuệ. Trí tuệ từ tình thương này là trí tuệ chân chính, một trí tuệ rất đặc biệt đem lại hòa bình và cái đẹp cho con người. Còn kiến thức chúng ta đi học được nếu biết dùng đúng chỗ thì tốt, nếu không biết dùng đúng chỗ thì sẽ hại người. Vì vậy, chúng ta phải dũng mãnh làm một cuộc đi ngược dòng để cởi bỏ tất cả những ảnh hưởng về tư tưởng, ngôn ngữ, phong cách, đạo đức…để đi về sự nguyên thủy của chúng ta để khôi phục lại vẻ đẹp từ đầu.

Từ nguyên bản này chúng ta phát triển lên. Năng lượng yêu thương đúng bằng sự rộng lớn của không gian tỉnh thức. Chất kích thích tố vĩ đại cho không gian tỉnh thức và năng lượng yêu thương là từ tình thương cha, mẹ, con cái cộng với tình thương nơi mảnh đất mình sinh ra. Do đó chúng ta sẽ trở về cái không có kiến thức, xứ sở, lý lịch, trai gái, thành công hay thất bại, ai hay ai dở,…

Với nhận thức ngày nay, chúng ta cần biết rằng chúng ta không chỉ sống cho chúng ta, sống cho dân tộc chúng ta mà chúng ta sống cho loài người. Đó là cách nhận thức để chúng ta mở rộng, kích hoạt năng lượng của chúng ta ra toàn cầu và thậm chí vượt ra khỏi địa cầu này. Không gian này lớn bao nhiêu thì tình thương của chúng ta lớn bấy nhiêu.Nếu có tôn giáo thì tình thương của chúng ta là thứ tôn giáo vĩ đại nhất.

PHẦN II CHUYÊN ĐỀ ỨNG DỤNG TRONG KINH DOANH

1. Điều hành doanh nghiệp

Để là một người điều hành giỏi cần phải là người khôn ngoan và có khả năng tạo quyền lực. Có hai loại quyền lực trong điều hành công việc: quyền lực ngầm và quyền lực nổi. Quyền lực nổi là kiến thức, kỹ năng làm việc, là loại quyền lực có được từ bên ngoài. Quyền lực ngầm là khả năng tạo niềm tin nơi người khác, để người ta chịu lắng nghe và làm theo mình.

Quyền lực ngầm là loại quyền lựu có được từ nội lực bên trong mình. Chính quyền lực ngầm mới là yếu tố quyết định trong công tác điều hành, vì nó ổn định, không thay đổi trong khi quyền lực nổi là không ổn định.

Để phát triển được quyền lực ngầm, cần kiên định và kiên nhẫn thực hành những điều sau:

- Tôn trọng, quan sát lắng nghe một cách chu đáo, khách quan

- Luôn giữ tình trạng đầu óc được định tĩnh,

- Luôn phát ngôn và ra quyết định trong trạng thái đầu óc định tĩnh và dựa trên sự quan sát lắng nghe chu đáo khách quan.

Điều tối quan trọng trong việc luyện tập để phát triển quyền lực ngầm là quay ngược vào bên trong mình, quan sát cái đầu của mình. Từ sự quan sát chính cái đầu của mình, giúp nó luôn ở trạng thái định tĩnh, mình sẽ thấy mọi việc đều dễ dàng, thuận lợi, mình luôn có nhiều giải pháp cho những tình huống mình gặp.

2. Những Bài Tập Cho Doanh Nhân

Khả năng làm việc của cái đầu thông thường của con người chỉ đạt được khoảng 1/1000 của nó. Do đó, doanh nhân cần phải tập để cái đầu càng ngày càng hoàn hảo, đáp ứng được cả phần điều hành vững chắc về luật pháp và phần hấp dẫn đối với nhân viên, đối tác và khách hàng. Phương pháp sau sẽ giúp cho người học để khôi phục trạng thái sơ khai của cái đầu, giúp ổn định trạng thái đầu óc và tạo sự hấp dẫn để may mắn tìm tới. Quý vị cần luyện tập 6 bài quan trọng sau đây :

a.Bài thứ nhất : Tập bỏ thói quen của lý sự.Từ đây về sau không lý sự với bất cứ ai.

b.Bài thứ hai : Đừng bao giờ quá tin vào những kiến thức của mình như trước đây, phải nghi ngờ toàn bộ kiến thức của mình.

c.Bài thứ ba : Mỗi ngày cần tập nhìn và nhận biết vào bốn nội dung sau thường xuyên, bất kể lúc nào trừ trường hợp ngủ say: Tính biết – ý tưởng – suy nghĩ – cảm xúc. Luôn luôn nhận biết về tính biết của mình hiện hữu ở tất cả nơi chốn mà mình đang hiện hữu. Luôn luôn nhận biết trong đầu mình đang có ý tưởng gì xuất hiện trước sự thấy, sự nghe của mình ở bên ngoài.Bởi ý tưởng đó sẽ dẫn chúng ta đi tới suy nghĩ ngay lập tức.Và suy nghĩ đó cũng sẽ dẫn chúng ta tới cảm xúc ngay tức thời. Để rồi chúng ta sẽ bị dẫn đi theo một vòng luẩn quẩn, không thoát ra được. Khi nhận biết được như vậy, chúng ta phải thay đổi chủ đề ngay tức khắc, đưa cái đầu vào một hướng khác và không tiếp tục bám vào chủ đề cũ.

d.Bài thứ tư : Không được nghĩ về quá khứ

e.Bài thứ 5 : Không đem chuyện công việc hàng ngày mà chúng ta làm xong rồi kể lại với gia đình.

f.Bài thứ 6 : Đi ngược để trở về cội nguồn yêu thương thuần khiết Chúng ta đi xuôi, tức là chạy theo kiến thức, kinh nghiệm của mình, còn đi ngược là từ chối nó.

Khi chúng ta thấy khó chịu là cái đầu đang làm việc theo thói quen cũ, có kinh nghiệm đánh giá theo lối cũ nên khó chịu. Nếu ta bỏ hết thói quen cũ đi thì sẽ không khó chịu vì không còn cái gì trong đầu nữa. Khi một người có những thói quen xấu làm ta khó chịu mà theo cách đi xuôi là góp ý sửa mãi mà không được thì chúng ta dùng phương pháp đi ngược, không góp ý gì nữa mà chấp nhận rồi tập khen họ. Tình thế sẽ khác đi. Tất nhiên là không thể thay đổi một cách nhanh chóng được, dần dần rồi tạo thành thói quen mới.

Đi ngược là không chạy theo bên ngoài. Tạo ra thói quen cho cái đầu chạy ngược chứ không chạy xuôi nữa. Ví dụ như khi một người nào đó nói những lời lẽ không hay về quý vị, thay vì bực tức khó chịu theo cách xuôi thì chúng ta cần dùng phương pháp ngược. Quý vị tập để cảm thấy rất dễ chịu khi họ nói như vậy – đó chính là huân tập cho cái đầu suy nghĩ theo hướng ngược lại. Khi quý vị tập đi theo con đường ngược như vậy thì tự nhiên quý vị sẽ khám phá được hạnh phúc, khám phá nhiệm màu.

Kết quả tập của quý vị sẽ trả lời đúng và sai.

Tóm lại là chúng ta cần có sự phản diện trở lại thì mới thấy được chính mình, từ đó mới phát huy được nội lực, trí tuệ của mình. Quý vị đang giữ cho tâm hồn bình yên thì nhiều khi gặp phải một số vấn đề làm cho mình bối rối, hoang mang và dẫn đến chán nản, thất vọng hoàn toàn. Có những nghịch cảnh như vậy để chúng ta bước qua nó. Nếu không có nghịch cảnh thì chúng ta chỉ đứng một chỗ mà không có trưởng thành, không có sáng tạo. Đi ngược giúp cho sự phát triển trí tuệ rất mạnh mẽ và mới mẻ, chúng ta kiểm soát hoàn toàn được cái đầu của mình. Chúng ta có thói quen nghe những gì êm tai thì bây giờ tập nghe những gì khó nghe, nghe những chuyện nghịch từ đó mới đủ sức, đủ phong độ chịu đựng. Lý thuyết để nói thì dễ nhưng khi áp dụng thì rất khó.

Do vậy, con đường này rất thích hợp đầu tiên là những người đã và đang gánh chịu những nỗi khổ đau cùng cực thì sẽ thấm rất nhanh. Nó giống như trường huấn luyện mà học sinh là những người đã và đang nếm trải đau đớn trong cuộc đời để luôn đối mặt với cuộc đời một cách tự tại. Mềm mỏng nhưng hiên ngang, cô độc sâu thẳm mà bao trùm hết tất cả.

Cô đơn như không khí, mặt trời nhưng nuôi hết tất cả sự sống này. Sự sống này chưa bao giờ cám ơn sự cô độc, cô đơn của ánh trăng, của mặt trời, của những làn gió mát… Dĩ nhiên, ánh trăng, mặt trời, làn gió mát…không bao giờ quan tâm đến sự biết ơn của người khác. Nó hiện hữu tự nhiên tùy theo hoàn cảnh, vậy thôi. Người học cũng sẽ tiến đến như vậy nhưng gần như phản ánh ngược lại, tuy gần giống như vô tình mà hữu tình, trộn lẫn ở bên trong cả hữu tình và vô tình. Lạnh lùng nhưng mà nồng ấm. Nồng ấm trong bản chất của lạnh lùng (không bị lôi cuốn). Mềm dẻo trong trạng thái của sự cứng cỏi và bền bỉ. Thản nhiên không biểu lộ điều gì mà hoàn hảo. Không cần nói tới đạo đức mà cần ở trung tâm của đạo đức, không cần nói sự cố gắng mà cần ở trong trung tâm của sự cố gắng. Khi tập sẽ tạo cho mình một ý thức, không gian tỉnh thức mở dần ra, khi đã thành thói quen mới, đã nhuyễn theo sự ngược dòng rồi thì quý vị sẽ tùy duyên mà ứng xử chứ không ứng xử theo kiểu mình tập. Khi đó sẽ rất phù hợp với quy luật của tạo hóa. .

3. Ba Nguyên Tắc Cơ Bản Để Xử Lý Tất Cả Những Công Việc Hàng Ngày

Ý nghĩ và kinh nghiệm của chúng ta đã làm cho khoảng không gian thanh tịnh vô tận trong đầu óc chúng ta tách rời sự kết nối với vạn vật, với tạo hoá và với Tính biết của tất cả chúng ta. Cho nên thực hành Minh triết về mặt vô tướng là kết nối toàn bộ với sự nhiệm màu của tạo hoá vô hình. Về mặt hữu hình, đó là những điều mà quý vị đang đối mặt. Bất kể mọi vật thể hữu hình, bên cạnh nó đều có sự vô hình. Nói cách khác, nền tảng để cho hữu hình hiện hữu là vô hình. Công việc quý vị cư xử hằng ngày là quý vị vừa kết nối trong vô hình, vừa xử lý hữu hình. Để làm được việc này, chúng ta phải tuân theo ba nguyên tắc:

Nguyên tắc thứ nhất: Khi giải quyết công việc, chúng ta phải hình dung là giữa hai chân mày có một con mắt thật to hình tròn và sử dụng 80% con mắt này nhìn vào trong đầu của mình, 20% còn lại nhìn ra ngoài. Làm như vậy, quý vị sẽ kiểm soát được cái đầu, điều khiển được trung tâm ánh sáng, hào quang (vì cái đầu phóng hào quang).

Hào quang ấy mang tính thấy và tính nhận biết. Nếu chúng ta không giữ được vị trí vững chắc và ổn định cho trung tâm hào quang này thì chúng ta sẽ bị hoảng loạn, bối rối khi đối mặt với các vấn đề, bởi vì trung tâm phát hào quang cũng đang rối loạn. Và nếu trung tâm hào quang bị rối loạn thì tất cả sẽ rối loạn!

Cho nên phải dùng 80% con mắt này nhìn vào trong mới có thể giữ cho trung tâm phát hào quang này lúc nào cũng hoạt động chuẩn xác thì nó mới có thể kết nối được với tất cả các năng lượng vô hình, kết nối với các năng lượng của trời đất… Khi chúng ta kết nối như vậy thì cái đầu chúng ta ở một trạng thái rất vững vàng.

Sự kết nối ấy như một tảng đá kiên cố không thể nào chuyển lay được. Hoàn cảnh đối mặt không làm rung động được sự vững chắc của tình trạng đầu óc mà lúc bấy giờ chúng ta đã đưa nó vào sự kết nối với toàn bộ năng lượng vô hình. Lúc đang đối đầu với khó khăn, quý vị hãy dùng tám mươi phần trăm con mắt để quan sát và lắng nghe cái đầu trước. Hai mươi phần trăm còn lại thì canh chừng bên ngoài. Lúc bấy giờ, quý vị rất sáng suốt và quý vị sẽ có giải pháp để giải quyết thoả đáng vấn đề.

Nguyên tắc thứ hai: Không quá quan tâm đến thành bại của cá nhân mình khi đối mặt vấn đề. Khi chúng ta nói chuyện với ai đó, hay chúng ta giải quyết vấn đề gì đó, chúng ta không được để kinh nghiệm hướng chúng ta chạy vào tập trung đến sự thành bại của bản thân. Khi đó toàn bộ con mắt linh thiêng của chúng ta đã bị đưa ra ngoài một trăm phần trăm. Giả sử lúc ấy chúng ta thành công, thì chúng ta được cái gì? Chúng ta chỉ được thoả mãn tâm lý mà thôi! Cho nên nguyên tắc thứ hai là chúng ta không quá để tâm đến thành công và thất bại. Đó chỉ là chuyện bên ngoài. Công việc chính là phải giữ cái đầu của mình. Bởi vì khi một trăm phần trăm cái đầu hướng ra ngoài thì quý vị không còn biết mình là ai nữa, suốt ngày tính toán, sân si, hồn siêu phách lạc! Quý vị tưởng là mình được, nhưng thật ra không được gì hết! Vậy thì, niềm vui thật sự là ở chỗ chúng ta an trú, giữ được cái đầu trong từng hành động mỗi khi làm việc. Như vậy, hạnh phúc sẽ liên tục đến từng giây, từng phút và thành công hay thất bại không liên quan gì cả! Hạnh phúc luôn an trú trong đầu chúng ta, có sẵn trong đầu chúng ta, không phải đến lúc chúng ta thành công mới có.

Nguyên tắc thứ ba: Nên chấp nhận thiệt thòi. Nguyên tắc này thực ra nó nằm trong nguyên tắc thứ hai, được tách ra để quý vị chú ý. Hằng ngày, quý vị có thói quen muốn tìm cho mình một cái gì đó, nhưng lại ít ai muốn bỏ bớt ra những thứ mà ta đang có!

Trong cuộc sống, chúng ta có thua sút ai một chút, có mất mát cái gì đó một chút, điều ấy không xấu một chút nào. Mà điều ấy lại có thể đưa đến sự bình an cho mình. Cho nên, chúng ta không nên lo sợ sự thua sút hay mất mát đó, mà hãy tin vào sự mầu nhiệm của một năng lực vô hình trong trời đất. Bởi vì trong đầu chúng ta cũng có năng lực ấy và chúng kết nối được với nhau rất hoàn hảo. Nhờ sự kết nối này mà cuộc sống chúng ta được cân bằng trong thế giới hữu hình. Vì vậy, sự mất mát cũng là một cân bằng! Bản chất của tất cả sự việc hiện hữu là tan rã. Bản chất của mối quan hệ gia đình cũng là tan rã, cũng là ly biệt. Không ai có thể giữ con mình mãi với mình được, không ai có thể giữ vợ hoặc chồng mãi với mình được. Và bản chất của mọi sự hiện hữu của chúng ta cũng là bản chất của sự chia lìa. Dù muốn dù không nó cũng đã và đang vận hành theo đường lối đó.

Vấn đề là, chúng ta có chịu thấy hay không chịu thấy mà thôi! Nó chỉ có một con đường để vận hành là sự chia lìa và tan rã, cho nên mọi giải pháp của hữu hình đều tưong đối. Khi quý vị nắm vững nguyên tắc này, quý vị sẽ làm chủ sự tan rã của thế giới hữu hình, làm chủ sự tan rã của tất cả các mối quan hệ và quý vị cũng nhìn được cái mới sẽ phát sinh trong sự tan rã ấy! Nhờ đó, quý vị sẽ thấu suốt được những vấn đề hữu tướng lẫn vô tướng, và quý vị sẽ không bị sốc trước sự tan rã ngoài mong muốn của mình. Chúng ta phải ráng giữ cái đầu như vậy cho đến giây phút cuối cùng. Trạng thái ổn định ấy là trạng thái bất sinh bất diệt, và con người đã nhận thức được nó nên trở thành chúa tể của muôn loài.

Không có loài nào có được nhận thức như vậy, và cũng không có loài nào vừa nhận thức, vừa phát huy cái khả năng nhận thức ấy như loài người!

Mỗi người nên lập một tuyên ngôn riêng cho bản thân mình để dẫn dắt sự tự do trong đầu óc chúng ta. Tuyên ngôn ấy là gì? Tính biết, tính sáng suốt vô tư và hồn nhiên, hay ánh sáng trắng trong đầu óc chúng ta là chúa tể của mọi tri thức, là chúa tề của mọi thành tựu, … Hào quang là chúa tể, mà hào quang thì có sẵn trong mỗi con người chúng ta, chỉ cần chúng ta quay con mắt nhìn vào trong là hào quang ấy sẽ bừng sáng lên. Quý vị sống mười sáu tiếng đồng hồ trong trạng thái lúc nào cũng kiểm soát cái đầu của mình, quý vị sẽ rất mau sáng. Quý vị lấy sự quan sát , lắng nghe làm chúa tể thì tính thấy và tính biết nằm trong sự quan sát, lắng nghe ấy sẽ phát huy hoàn toàn phẩm chất của nó. Mỗi người nên lập một tuyên ngôn riêng cho bản thân mình để dẫn dắt sự tự do trong đầu óc chúng ta.

Tuyên ngôn ấy là gì? “ Tôi là một sinh linh luôn luôn hiện hữu sự thấy, biết chuẩn xác trong sự quan sát và lắng nghe cao độ”. Và cái tuyên ngôn ấy sẽ dẫn đường cho quý vị thoát khỏi sự nô lệ của lòng chấp, thoát khỏi sự nô lệ của kinh nghiệm. Khi đối đầu, quý vị hãy nhớ tuyên ngôn đó và dùng tám mươi phần trăm ánh sáng cho nó để giải quyết công việc. Cầu nguyện là một phương pháp rất tốt, nó sẽ trợ lực cho quý vị làm cho bản ngã tan biến đi. Còn hào quang trong đầu chúng ta thì ví như mặt trời. Có chỗ thì ánh sáng mặt trời vào được, có chổ không vào được, có chỗ gần quá, cây không sống được, có chỗ thì xa nên cây quanh năm tươi tốt…

Chuyện cây sống được hay không sống được không liên quan gì đến sự chiếu sáng của mặt trời, dù cho cả thế giới biến thành sa mạc, mặt trời vẫn cứ chiếu ! Không có lý do gì khi thấy sa mạc xuất hiện mà mặt trời ngưng chiếu, hoặc điều chỉnh ánh sáng nó chiếu ra. Phải giữ sự ổn định như vậy trong đầu óc chúng ta. Không được rung động trước cảnh, không được rung động trước thành bại, mà hãy cố gắng tìm được cái mới xuất hiện từ sự tan rã ấy. Và việc quý vị có tìm ra cái mới hay không là do quý vị có ổn định được cái đầu mình hay không?! Cho nên quý vị cần dùng ba nguyên tắc đó để điều hành công việc trong ngày, trong tất cả các mối quan hệ mà chúng ta phải đối mặt.

4. Duy trì khả năng quan sát

Lúc đầu, những người có tài lanh lợi quan sát nhìn nhận được tình hình rồi đưa ra ý tưởng rất phù hợp và chính xác với hoàn cảnh ấy. Họ thực hiện ý tưởng ấy thắng lợi. Nhưng rồi họ cứ đeo đuổi mãi với những ý tưởng đó thì sẽ không ổn vì bản chất của nó đã lạc hậu rồi. Một ý tưởng lạc hậu rất nhanh, nó không phù hợp lâu được. Nó chỉ lên tới đỉnh điểm trong một thời gian rất ngắn. Nếu cả hệ thống mà cứ duy trì mãi ý tưởng đó thì sẽ sụp đổ.

Tất cả mọi tri thức, kiến thức, lý thuyết chỉ đáp ứng một thời gian rất ngắn rồi đều lỗi thời. Khi quan sát, lắng nghe rồi từ đó mà phát huy ý tưởng sáng tạo, khơi dậy cảm xúc yêu thương – thánh thiện của con người thì sẽ không bao giờ lạc hậu được. Điều này, tất cả máy móc, kỹ nghệ không thể làm được. Đó mới chính là đời sống thật – không phải là ý tưởng, lý thuyết.

Quý vị không thể lục lọi trong sách vở mà tìm ra ý tưởng mới được. Duy trì quan sát, nhận biết thật rõ thì sẽ phát sinh trí tuệ liên tục và truyền cảm xúc cho người khác thì lúc nào cũng tươi mới. Quan sát là đời sống thật, không phải lý thuyết, ý tưởng, triết lý.

5. Coi chừng sự nguy hiểm của lực hút vi tế từ kho kinh nghiệm khi ra quyết định.

Khi quyết định vấn đề gì quý vị phải để ý tới thế giới kinh nghiệm của mình. Nó thúc đẩy mình đi đến quyết định mà mình khó có thể biết được. Khi mình quyết định thì thế giới kinh nghiệm có sức hút rất mạnh nên quý vị rất dễ sa vào cái bẫy của kinh nghiệm rồi quý vị quyết định từ thế giới kinh nghiệm ấy mà không biết. Bản thân của kinh nghiệm nó lại rất chủ quan. Nó cứ dẫn dắt quý vị quyết định nhanh khi mà cảm xúc bên trong quý vị vẫn còn đó nên mới hay xảy ra hậu quả từ quyết định không đúng.

Do vậy, khi quyết định vấn đề gì, quý vị cần phải hết sức lắng đọng tâm tư để quý vị an trú vào trong trạng thái bình yên hoàn toàn rồi thì mới ra quyết định đó. Có nhiều khi quý vị cũng khó có thể biết được là mình đang có cảm xúc. Bởi vì nó rất vi tế, nó xúc động rất nhẹ nên mình không để ý. Thế giới kinh nghiệm nó cho ra quyết định rất tế nhị. Nó cho ra quyết định mà quý vị chỉ thấy đúng chứ không thấy sai, đó là cái nguy hiểm của thế giới kinh nghiệm. Nó cho mình rất tin tưởng vào chính quyết định đó.

Thông thường những quyết định trong khoảnh khắc như vậy thì 5 ăn – 5 thua, nó cũng có thể được và cũng có thể không được. Một trong những sức hút của kho kinh nghiệm là nó thúc mình trong lúc còn đang rụt rè thì nó nói : quyết định đi thì cảm thấy có lợi mà nếu không quyết định thì cảm thấy như không có lợi, hoặc nếu không có lợi thì cũng không sao đâu. Chính cái chỗ này hết sức tế nhị! Mặc dù mình có chút cảm giác không an toàn nhưng cảm giác có lợi nó mạnh hơn.

Cho nên, quý vị cần phải quán xét sức hút của kho kinh nghiệm, nó đưa đẩy rất là tế nhị giữa lợi và hại. Mình không thể biết được! Nó hết sức là vi tế làm cho mình khó mà có thể nhận biết được. Do vậy, quý vị luôn nhớ là quý vị phải tập đi ngược. Quý vị phải tập đi ngược thì sức hút ấy nó mới nhả dần ra.

Đi ngược là gì ? Là mình cảm thấy bất lợi, là cảm thấy không logic..thậm chí mình thấy nó hơi hụt đi một chút, hơi mất đi một chút, hơi không logic một chút. Mình chưa đủ trình độ nên cứ phải dùng phương pháp ngược để kiểm tra , thấy nó hao hụt và không logic một chút nhưng cứ kệ nó, cứ quyết định. Nhưng giữa phần này và phần rủi ro khi còn dính vào cảm xúc, kinh nghiệm thì phần này không rủi ro.

Phía thuận thì có nhiều rủi ro khi nó cho mình cảm thấy lợi để quyết định. Phía ngược thì không có lợi, chỉ mất đi cơ hội và thiệt thêm nhưng chắc chắn là rủi ro thì không hề có. Do nó vi tế nên quý vị rất khó thấy, do khó thấy nên cứ đụng vào là rất dễ bị dính mắc. Cho nên, chúng ta cần có căn cứ để dựa vào đó mà cảnh giác với sức hút rất vi tế này của kho kinh nghiệm để quyết định cho đúng nhờ vào việc mình loại trừ được sự vi tế ấy. Vì nó quá vi tế, mình không thể biết được mà vẫn phải quyết định thì mình phải chấp nhận để vấn đề chậm lại một chút, thiệt đi một chút, không vừa lòng một chút – đó chính là phương pháp ngược.

Khi đó, quý vị không phải trả giá cho sự rủi ro mà chỉ phải trả giá cho chuyện khác nếu có, nhưng nó nhỏ chứ không lớn. Còn theo phương pháp thuận, sức hút vi tế ấy nó cho quý vị thấy có lợi quá rồi dẫn tới mình quyết định nhưng tuy nhiên vẫn còn chưa yên tâm đến khoảng trên 20%. Nhưng chính 20% này, khi xảy ra là quý vị phải trả giá. Mà trả giá này thì làm cho quý vị chẳng những hao tiền, tốn của mà nó mệt và nhức đầu vô cùng. Trong lĩnh vực danh – lợi – tình, quý vị đừng chủ quan là có thể kiểm soát được, dù cho đến khi quý vị già yếu, sắp chết vẫn có thể bị quyết định sai lầm. Khi nó đụng đúng vào chỗ sâu thẳm của tâm hồn thì nó có sức hút ghê gớm, cho dù ta có tàn tật, thân xác chỉ còn thân và đầu ngồi trên ghế…

Lĩnh vực này quá tế nhị nên quý vị cần cầu nguyện để những điều rủi ro đừng đến với mình, để mình không phải quyết định trong tình huống đầy thách thức, rủi ro. Ngoài ra, quý vị phải dùng phương pháp ngược với thói quen của quý vị. Trong quyết định hàng ngày quý vị phải tập để ý đến không gian kinh nghiệm.

Đầu xuôi hay ngược thì cũng nằm trong không gian này, nhưng nếu chấp nhận đầu ngược thì đỡ nguy hiểm hơn cho quý vị. Nếu vượt qua được nó thì quá tốt nhưng rất khó. Một người đang đi trên đoạn đường xa vời vợi so với quê hương, cha mẹ, bạn bè.. rồi gặp một người lạ, họ cho người ấy thấy có lợi lộc, thấy mình có đạo đức quá, tâm rộng lớn quá.. và họ nói với âm thanh nghe êm tai…Hai yếu tố này nó dồn lại làm cho xúc cảm dễ chịu của quý vị nổi lên, rơi vào bản ngã say sưa rồi làm cho quý vị dễ dàng sập bẫy. Khi quý vị rời cha mẹ mình, thầy của mình, bạn tốt của mình ra (bạn tốt thường nói với quý vị bằng âm thanh khó nghe) thì rất dễ bị như vậy – tế nhị lắm!

———————–

Những bài tập này diễn ra trong lúc quý vị đang hoạt động nên cũng không làm quý vị mất thời gian. Chúng ta thực hiện tốt những bài này thì vận may tiếp tục đến, thực hiện lúc nào thì hạnh phúc ngay trong lúc đó, năng lực lãnh đạo phát triển, sự hấp dẫn, sức chiêu cảm, năng khiếu kinh doanh sẽ phát triển. Tức là, nếu chúng ta chuyển tính biết sang hướng phát triển phần hấp dẫn của đầu óc mình thì tính biết sẽ giúp phát triển theo hướng đó. Chúng ta muốn năng lực hấp dẫn của mình phát triển thì tính biết cũng sẽ giúp cho mình. Từ đây, nếu quý vị đóng một vai trò nào đó trong xã hội thì sẽ phát minh được đầy đủ bi – trí – dũng và phát huy rất tốt tác dụng của mình.

—————————————————————————————————

“Càng muốn nói thật nhiều càng nói không được bao nhiêu, bởi sự thật quá lớn, trong khi phương tiện ngôn ngữ và kinh nghiệm diễn đạt thì quá nhỏ.” Quý vị có thể tìm kiếm thêm trong các bài pháp âm, các bài phiên tả từ pháp âm hoặc các bài viết của Đạo sư Duy Tuệ để chiêm nghiệm lại và giới thiệu rộng rãi, để mọi người Việt Nam cùng hưởng lợi ích và chia sẻ với nhân loại nói chung! Tài liệu tổng hợp được biên tập từ các bài giảng và sách đã xuất bản của Đạo sư Duy Tuệ Trung tâm UNESCO Nghiên Cứu và Ứng Dụng Phật Học Việt Nam Trân trọng giới thiệu!

Sáng ngày 29-8-2010, tại số 7 Nguyễn Bỉnh Khiêm, Q.1 Tp Hồ Chí Minh, Trường Quản lý cán bộ thuộc bộ Giáo dục Đào tạo đã diễn ra cuộc hội thảo khoa học về Minh triết & Minh triết kinh doanh do Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam – Trung tâm minh triết phối hợp với Trường quản lý giáo dục TP.HCM, cùng Hiệp hội sản xuất & chế biến thủy sản Việt Nam ( VASEP)” tổ chức.

Hội thảo do hai ông Nguyễn Khắc Mai Giám đốc trung tâm Minh triết và ông Hoàng Ngọc Hiến Chủ tịch hội đồng khoa học Minh triết chủ trì.

Dự hội thảo chúng tôi thấy toàn là các vị chức sắc văn hóa. Từ Hà Nội vào có Giáo sư Nguyễn Đình Chú, Gs Nguyễn Đăng Mạnh, Nhà văn Xuân Cang, PGS TS Băng Thanh, Giáo sư Chương Thâu, GS Chu Hảo, Nhà báo Nhật Hoa Khanh, hoạ sĩ Nguyễn Xuân Việt, TS vật lý Nhà thơ Lâm Quang Mỹ

Tại tp Hồ Chí Minh chúng tôi thấy có sự hiện diện của GSTS Nguyễn Đăng Hưng, Đại học Liège Bỉ. Giáo sư Viện sĩ Vũ Đình Huy, Giám đốc Công ty phần mềm tin học 3TGroup Thái Doãn Hiểu, Nữ nhà văn Ngọc Hải, Nhà nghiên cứu văn hóa Chăm Nhà thơ Inrasara, Linh mục Nguyễn Bá Cần, nhà điêu khắc Phạm Văn Hạng, lão thi gia Bàng Sĩ Nguyên, Nhà phê bình văn học nhà thơ Trần Mạnh Hảo, Nhà thơ Đinh Trần Toán, TS Trần Thu Hà , Giám đốc Trung tâm đào tạo Quốc tế – TP Hồ Chí Minh (CIE-HBU), Miên Đức Thắng Ca nhạc sĩ – Họa sĩ … khá đông Giám đốc các Doanh nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh, Công ty Thuỷ sản Việt Nam…

Suốt một ngày ròng, khoảng 50 nhà khoa học và 20 đại biểu dự thính đã nghe và thảo luận các báo cáo tham luận khoa học sau đây :

(1) Cần thống nhất cách hiểu về Minh triết của GS Trần Nghĩa, Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

(2) Lạm bàn về Minh triết của nhà Nghiên cứu Hà Văn Thùy.

(3) Minh triết – trước lạ sau quen, một hành trình tìm kiếm của TS Nguyễn Đức Thạc.

(4) Món quà Minh triết của Ngô Sĩ Thuyết.

(5) Minh triết trong tổ chức quản lý kinh doanh ở Việt Nam của GSTS Trần Ngọc Hiên.

(6) Nên thợ nên thầy, no ăn no mặc – Minh triết Nguyễn Trãi, Các Mác, Hồ Chí Minh, Nam Cao của GSTS Hoàng Ngọc Hiến (*).

(7) Nơi nào triết học im tiếng thì minh triết cất lời của Nhà thơ Trần Mạnh Hảo.

(8) Một bài học minh triết trong chiến lực kinh doanh : Hãy làm khác đi những gì các đối thủ khác thường làm của PhD Thái Doãn Hoàng Cầu Giám đốc quản lý chiến lực công ty năng lượng SNOWYHYDRO Sydney, Australia.

(9) Minh triết của Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm của Nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Mai.

(10) Tấm biển chỉ đường – Minh triết cho tất cả mọi người của Học giả Thái Doãn Hiểu.

(11) Vài suy nghĩ về đạo đức kinh tế theo đạo Phật của GSTS Thái Kim Lan, Việt kiều Đức.

(12) Đạo đức và kinh tế của PGSTS Hà Thúc Minh

(13) Văn hóa vô ngôn vận dụng vào Minh triết kinh doanh của Nguyễn Việt Nho.

(14) Minh triết kinh doanh – trường hợp các nhà nho Duy tân Đặng Huy Trứ, Lương Văn Can của PGSTS Chương Thâu, viện sử học.

(15) Vấn đề Minh triết trong hoạt động kinh doanh thời kinh tế thị trường của TS Hồ Bá Thâm.

(16)Nền kinh tế vì con người của Linh mục Nguyễn Đình Thi.

(17) Đồng quản lý: phương thức quản lý khôn ngoan đối với việc khai thác tài nguyên thiên nhiên luôn biến động của PGSTS Hà Xuân Thông.

(18) Minh triết trong kinh doanh của Ths Lê thị Thanh Tâm.

(19) Phương pháp thiền minh triết của Đạo sư Duy Tuệ.

Nguon blog Thai Doan Hieu

Xem thêm bản tin hội thảo tại Huế: Ngày 24 và 25/11/2009 – Tổ chức bởi Trung tâm nghiên cứu văn hóa Minh Triết thuộc Liên hiệp các hội khoa học & kỹ thuật Việt Nam tại đây

PHƯƠNG PHÁP THIỀN MINH TRIẾT DUY TUỆ – HỆ THỐNG SƠ LƯỢC VÀCHUYÊN ĐỀ ỨNG DỤNG TRONG KINH DOANH

PHẦN I: SƠ LƯỢC HỆ THỐNG PHƯƠNG PHÁP THIỀN MINH TRIẾT DUY TUỆ

1. Bối Cảnh Ra Đời

Ngay sau khi trải qua một sự khám phá về những điều bí mật trong đầu óc một cách hết sức tình cờ như là một đặc ân của trời đất – “giống như có một thứ ánh sáng thiêng liêng nào đó đã chiếu vào tâm hồn tôi để khai mở trí thấy cho tôi về những bí mật tuyệt hảo của con người. Sư kiện thiêng liêng này nằm ngoài khả năng bình luận của đầu óc con người, của các nhà khoa học hay bác học dù tài giỏi tới đâu”- Đạo sư Duy Tuệ kể lại.

Từ đó mà Đạo sư Duy Tuệ đã thấy rất rõ, đã biết rất rõ rằng đầu óc của con người hết sức vi tế, hết sức huyền ảo, hết sức tốt đẹp nhưng cũng hết sức nguy hiểm, hết sức lộng lẫy huy hoàng nhưng cũng hết sức đen tối. Nó hết sức vi diệu, hết sức màu nhiệm nhưng cũng hết sức rắc rối và dễ đem lại cho con người sự đau khổ triền miên.Nếu chúng ta biết cách phát triển sự màu nhiệm của nó thì nó sẽ đưa chúng ta đến hạnh phúc, nếu chúng ta không biết tới sự bí mật này thì nó sẽ đưa chúng ta đến khổ đau. Cùng với sự tập luyện một số phương pháp để thưởng thức và phát triển thế giới bí mật, thế giới màu nhiệm của đầu óc mà Đạo sư Duy Tuệ đã từ bỏ cuộc sống của những lợi ích riêng tư, ngày đêm nhiệt tâm đem những kinh nghiệm ấy truyền trao cho những người có duyên tiếp cận, giúp cho những người học có được những phẩm chất trong đầu óc để làm được những điều lợi lạc cho chính mình, cho gia đình, cho cộng đồng, cho dân tộc, cho nhân loại.

Trong cuốn Cẩm nang Thiền Minh Triết, Đạo sư Duy Tuệ có nói:“Qua bao nhiêu năm tháng ưu tư về bí mật đời người, ý nghĩa cuộc sống, khổ đau của con người… tôi tình cờ đã rơi vào trạng thái hạnh phúc mãn nguyện khi bộ máy suy nghĩ trong đầu bị khoá chặt hoàn toàn.

Sự trải nghiệm đặc biệt này xảy ra thường xuyên trong ba năm liên tiếp.

Đợt trải nghiệm thứ nhất xảy ra hai lần với đặc điểm là trải nghiệm trạng thái hạnh phúc tuyệt diệu!

Đợt trải nghiệm thứ hai lặp lại rất nhiều lần trong hơn một năm với đặc điểm là, nhìn thế giới hữu hình trong tình trạng bộ máy suy nghĩ trong đầu bị khoá chặt, vô hiệu hoàn toàn.

Đợt trải nghiệm thứ ba xảy ra một lần với đặc điểm là, bộ máy suy nghĩ không bị khoá nhưng toàn bộ nguyên liệu cho nó hoạt động bị biến mất hoàn toàn. Mỗi giai đoạn trải nghiệm cho tôi thấy một sự thật hiển nhiên để qua đó ổn định đời sống tinh thần của mình.

Sự thật thứ nhất là có năng lượng hạnh phúc không điều kiện hiện hữu triền miên nơi chính mình. Hạnh phúc hay phúc lạc kì lạ nhất, huyền ảo nhất, rộng khắp nhất, hoàn hảo nhất, sâu thẳm nhất, nhiệm màu nhất, bền bỉ, ổn định và đáng hưởng nhất mà đời sống do đầu óc suy tính và tác động vào sẽ không bao giờ có được.Trạng thái hạnh phúc kì diệu, vô giá này sẽ xuất hiện khi suy nghĩ không hoạt động được. Trạng thái hạnh phúc này không phụ thuộc vào sự làm việc của cái đầu và dĩ nhiên là không phụ thuộc vào cuộc sống mang tính hình thức. Hạnh phúc hay phúc lạc này là chung cho mọi sự sống của hành tinh này và cho tất cả sự sống của các hành tinh khác.

Sự thật thứ hai là, quan sát cẩn trọng từ trong đầu óc cho đến bên ngoài đích thực là lẽ sống thật, là sinh mệnh của con người! Quan sát càng chính xác bao nhiêu thì cuộc sống càng hạnh phúc bấy nhiêu. Quan sát giúp đầu óc nhẹ nhàng nhất, mới mẻ và dễ chịu nhất!

Trải nghiệm này cho tôi thấy rõ rằng, trong lúc bộ máy suy nghĩ bị khoá chặt không làm việc được thì có một cuộc sống khác thật ổn định hiện ra, đó là đời sống với tính quan sát cẩn trọng chứ không phải là những ý kiến hay ý nghĩ trong đầu óc. Đây là đời sống ổn định, đời sống thật sự là sống chứ không phải suy nghĩ là đời sống thực.

Trong lúc sự trải nghiệm xảy ra, bộ máy suy nghĩ đã bị khoá, người đang sống dựa trên quan sát biết rõ bộ máy suy nghĩ bị khoá chặt và đầu óc không thể ra lệnh, không thể hiện hữu các khái niệm về tên gọi cho chính mình, cho các vật thể chung quanh. Mọi thứ mình thấy qua mắt chỉ là những hình ảnh rời rạc của một thực thể thống nhất đang hiện bên dưới chúng.

Trọng lượng cơ thể nhẹ hẳn, tất cả đất đá và những đồ vật hằng ngày mình thấy giờ đây hoàn toàn mới và chưa có hay không có tên gọi. Tóm lại, mọi thứ dừng lại ở giai đoạn quan sát. Và ngay lúc ấy, khi tôi rờ vào đâu, nhìn vào đâu đều tự nhiên ứng ra lời giải đáp không nằm trong cái đầu của mình.

Sự thật thứ ba là khi mọi thứ nguyên liệu của bộ máy suy nghĩ biến mất thì tôi nhìn thấy nguyên nhân gây ra khổ đau cho chính mình là do cái đầu suy nghĩ. Cùng với sự nhìn thấy ấy, tôi thấy năng lượng sáng tạo đời sống hạnh phúc và tình yêu vô tận của con người đã bị chính cái đầu suy nghĩ tàn phá, khống chế hay che lấp.

Trải nghiệm này cũng cho tôi thấy rất rõ bộ óc hay đầu óc hoàn toàn có khả năng làm việc thật hoàn hảo trong trạng thái không chứa bất cứ thứ nguyên liệu nào trong đó như kí ức, kiến thức trong cuộc sống, khái niệm hay triết lí sống cho riêng mình, niềm tin tôn giáo, niềm tin vào một học thuyết hay triết thuyết để xây dựng một xã hội, hay xây dựng một cuộc sống cho cá nhân hay cho gia đình.

Không còn một ý niệm hay ý tưởng khuôn mẫu nào cho cá nhân, cho một gia đình, hay cho một cộng đồng quốc gia hay quốc tế. Sau này, tôi tạm gọi là sống và làm việc, yêu thương theo đầu óc mở, không theo khuôn phép nào.

Trải nghiệm và nhận biết rằng mọi ý tưởng, khái niệm, chữ nghĩa, ý nghĩ, ý nghĩa của các chữ viết, quan niệm sống, sự tiêm nhiễm các triết thuyết hay học thuyết có thể rơi rụng hoàn toàn trong đầu óc, và không gian trống rỗng vô tận trong đầu óc chỉ mang năng lực nhìn thấy và hiểu biết vô tận sẽ chiếu soi và cho ta biết rằng, thủ phạm gây khổ đau tinh thần (và đôi khi cả thể chất) mà con người cưu mang trong nhiều kiếp chính là suy nghĩ. Và đi cùng với suy nghĩ là con người không nhận biết được điều này, mà trái lại, còn tin tưởng và bám chặt lấy nó, không chấp nhận từ bỏ nó.

Qua ba lần trải nghiệm, tôi đã bỏ ra thời gian hai năm để thưởng thức thứ hạnh phúc mà mình chưa bao giờ trải nghiệm. Nó gần giống như tôi thấy lại một con đường xưa cũ, con đường mà tạo hoá ban cho loài người tự bao giờ vẫn còn đó, không có một chút bụi bám lên, không có chút tì vết của thời gian do con người quy ước, không có một bóng người đi trên con đường, chỉ mỗi mình tôi. Cho dù thật sự cô độc nhưng hoan lạc ngập tràn cho một người đã vượt ra khỏi lịch sử về tuổi tác, nguồn gốc, hình tướng, màu da, tiếng nói, kiến thức, học thức, ngôn ngữ và văn hoá cũng như văn minh.

Tôi tự biết đây là con đường tuyệt vời dành cho loài người vẫn còn bị che dấu bên dưới đầu óc của mình. Không có lối vào con đường này nhưng hơn mười năm qua, tôi hết sức cố gắng để đưa những đệ tử thiêng liêng cao quý đi cùng tôi và truyền sự màu nhiệm của con đường này cho cuộc sống của họ với mọi người chung quanh.

Cũng có thể nói theo cách khác là, ba giai đoạn trải nghiệm đã đưa đầu óc tôi vào thế giới sáng tạo ra vô lượng, vô biên các con đường để chẳng những dẫn đến chấm dứt hoàn toàn sự khổ đau, mà còn cho ra những con đường khai mở khả năng rộng lớn đến vô tận của sự sáng tạo, của tình yêu, của sự làm việc trong đời và của sự hưởng thụ trọn vẹn cuộc đời đầy chông gai, bão táp và thiên biến vạn hoá này.Sau ba lần trải nghiệm như nói trên, tôi bắt đầu tập thành thói quen một số phương pháp để giữ bền vững không gian Minh Triết trong đầu óc mình và tôi thật sự hạnh phúc!

Đến tận bây giờ, tôi cũng vẫn thường xuyên quan sát và theo dõi các diễn biến trong đầu óc của mình. Tôi lấy sự quan sát làm lẽ sống của mình, coi nó là đời sống thật, là hơi thở cho Minh Triết trong đầu óc và lấy việc không tin vào suy nghĩ của mình làm lẽ sống cho riêng mình. Tôi thật sự hạnh phúc!

Để minh hoạ cho dễ hiểu về các trải nghiệm nêu trên, tôi tạm chia cuộc đời tôi ra làm ba thời kì, và thời kì sau cùng tạm gọi là đời sống hạnh phúc. Tôi cũng đã nói những điều này trên skype cho nhiều người nghe. Ba thời kì đó là:

- Thời kì nước mắt hồn nhiên của tuổi thơ

- Thời kì nước mắt của sự trả giá trong cuộc đời do chưa hiểu về bí mật của cái đầu.

- Và thời kì nước mắt xuất hiện của sự trở lại bản tính hồn nhiên trong bộ não già cỗi.

Thời kì thứ hai là rất cần thiết! Nó là điều kiện không thể thiếu cho thời kì thứ ba.

Không thể thiếu cho tình yêu và trí tuệ Minh Triết nở hoa trong thời kì thứ ba. Ở thời kì thứ hai, do sự trả giá với cuộc đời mà nhiều người muốn trốn tránh áp lực cuộc đời nên cố nghĩ ra một thế giới chứa chấp sự trốn chạy của mình. Đến thời kì thứ ba, rất giống thời kì thứ nhất, chẳng có nhu cầu đi về đâu sau cái chết.

Quý vị có thể nói đến thiên đàng cho một em bé được không? Em bé đang ở trong thiên đàng của chính đầu óc nó và của cuộc sống chung quanh. Nó thật sự không có nhu cầu thiên đàng.

Đây là thời kì trưởng thành của con người nhưng con người chưa đủ khả năng nhận biết, phải chờ đến thời kì thứ ba vậy.Nói đến hạnh phúc hay trưởng thành là nói đến sự thăng hoa về tinh thần, về đầu óc chứ không nói đến kiến thức, quyền lực chính trị, quyền lực kinh tế hay thế quyền hoặc thần quyền. Chữ “quyền” không nằm trong phạm trù trưởng thành hay hạnh phúc.

Trong hơn 10 năm qua, dù thiếu thốn cực khổ đến đâu, dù chịu bao nhiêu sự ghen ghét, tị hiềm bởi tính ích kỉ của con người, tôi cũng vẫn giữ vững một đại nguyện, một tấm lòng làm phước giúp cho con người nhìn thấy và thực hiện con đường làm cho cái đầu an ổn. Từ người trẻ đến người già, khi lắng nghe và thực hành bài quan sát hơi thở, đầu óc và các cảm xúc của mình đều được thay đổi rất lớn. Những vị có sự thay đổi lớn là những vị lúc nào cũng gần gũi, lắng nghe và thực hành những điều tôi chia sẻ.

Để có thể bước vào giai đoạn thứ ba của cuộc đời, sự tập luyện là cần thiết chứ không phải góp nhặt kiến thức là cần thiết. Tôi khuyên quý vị không nên phát triển kiến thức về con đường này. Bởi bất cứ thứ kiến thức nào cũng làm cho quý vị tiếp tục đắm chìm sâu vào giai đoạn trả giá với cuộc đời. Kiến thức không đem lại sự thay đổi ngược chiều để tận hưởng hoan lạc trong giai đoạn thứ ba này. Chỉ có một cách hiệu quả nhanh nhất và hy vọng nhất là nên nghi ngờ những gì mà mình hiểu biết và tìm nhiều cơ hội gần gũi tôi. Tuy nhiên, tôi vẫn cố sáng tạo ra vài phương pháp để giúp quý vị tự tìm hướng tiếp cận con đường xưa.

Từ trong thực tế rèn luyện tự thân thành người lấy thói quen quan sát làm lẽ sống của mình, từ thực tiễn kết quả của biết bao nhiêu người học tập với tôi trong hơn mười năm qua, tôi tạm sáng tạo ra một số bài tập để giúp cho nhiều người trên khắp thế giới thực tập mà hưởng thụ cuộc sống tươi đẹp hơn!

Chúng tôi lần lượt hình thành các Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng Minh Triết vào đời sống trên nhiều quốc gia. Các Trung tâm này sẽ là nơi hướng dẫn cho những ai quan tâm đến đời sống tinh thần bình an, thành đạt, và hạnh phúc.”

2. Tôn Chỉ

Tôn vinh một biểu tượng của nguyện vọng, trí tuệ, và tình cảm cho đời sống tinh thần, đời sống tâm linh của người Việt Nam – Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông.Cũng từ cái thấy này mà hơn mười năm trước, Đạo sư Duy Tuệ đã sáng lập Trung tâm UNESCO Nghiên Cứu & Ứng Dụng Phật Học Việt Nam, quyết định nghiên cứu và tìm hiểu để chọn một biểu tượng thánh thiện có thể tiêu biểu của nguyện vọng, trí tuệ, và tình cảm cho đời sống tinh thần, đời sống tâm linh của người Việt Nam. Trung tâm đã tôn vinh Đức Vua Trần Nhân Tông (1258-1308) như là một Bậc Giác Ngộ của Việt Nam, một vị Phật Việt Nam.

Trần Nhân Tông là một biểu tượng của trí tuệ giải thoát theo tinh thần của Phật Giáo Đại Thừa. Ngoài biểu tượng trí tuệ Phật, Ngài hội đủ được tính nhân bản, tính đơn giản thanh nhàn, tính trung thực trong sáng, và tính đạo đức trong đức tin tôn giáo. Ngài chú trọng vào đức tin bên trong và cổ xúy lối sống đạo đức, thông qua đức tin tôn giáo chứ không ủng hộ các hình thức tín ngưỡng rườm rà, tốn kém, phi nhân bản.Dân tộc Việt Nam là dân tộc vẫn còn nghèo về vật chất lẫn kiến thức khoa học hiện đại. Do vậy, các đức tin tôn giáo nên chú trọng phát triển trí tuệ giải thoát hay tự do cởi mở cho tín đồ để thúc đẩy người tín đồ quan tâm đến tinh thần khoa học và phát triển trí tuệ khoa học đi đôi với cổ vũ lòng yêu dân tộc và tổ quốc của họ. Đây mới thật là tôn giáo tôn trọng nhân bản.

Tôn vinh Trần Nhân Tông không phải là qua các phương pháp tu hành xâm nhập từ Ấn Độ, Trung Quốc hay các nước khác được thể hiện qua thiền hay các nghi lễ trong các tu viện. Việc tôi tôn vinh Người là tôn vinh biểu tượng tiêu biểu cho cái thấy sáng suốt và nhân bản của các Đức Phật.Đạo sư Duy Tuệ đã truyền dạy những tinh hoa này của Trần Nhân Tông cho các đệ tử trong suốt hơn 10 năm qua và nay thì đã trở thành một phong trào ngưỡng mộ và tìm hiểu học tập về Ngài được phổ biến khắp cả nước. Nếu trước đây chỉ trong hệ thống truyền dạy của trung tâm, tổ chức nhiều lần lể kỷ niệm ngày mất của Trần Nhân Tông thì ngày nay gần như tất cả các chùa trên cả nước Việt Nam đều đồng loạt tổ chức (ngày 1/11 Âm Lịch) để tưởng nhớ và lấy Ngài làm gương phát triển phẩm hạnh của mình.

3. Định Hướng

Với Phương Pháp Thiền Minh Triết Duy Tuệ, người học sẽ được hướng dẫn 3 nội dung cơ bản là:

a.Con đường thứ nhất: Khai thị để hiểu được những bí mật và sự màu nhiệm trong đầu óc.Con đường khai thị hay là khai mở tầm nhìn qua những bài giảng sẽ giúp cho người học tự thấy và hiểu mang tính nhận thức về kiến thức giúp cho người học hiểu được bí mật của cái đầu, bí mật của suy nghĩ, bí mật về các ý tưởng, về các sự tưởng tượng, bí mật về những trạng thái cảm xúc. Từ đó người học mới để ý tới tài sản vô giá của mình.

b.Con đường thứ hai: Song hành với con đường khai thị là những phương pháp hướng dẫn một số bài tập để đặt ra một bên tất cả những gì vướng mắc kể cả tốt lẫn xấu mà nó ràng buộc cái đầu.

Đó là con đường vượt ra khỏi đời sống kinh nghiệm sâu dày qua bao năm tháng của cuộc đời đã qua để người học trở về đầu óc tự do và sáng suốt : Bằng những bài giảng và những bài tập giúp cho người học thông suốt những vướng mắc trong đầu óc.

Những vướng mắc ấy có thể là một đức tin đúng hay sai, một kiến thức đúng hay sai, một kiến thức lỗi thời hay đang phù hợp, những kinh nghiệm không còn hay đang còn phù hợp cho đầu óc của người học. Người học sẽ được lấy ra nói chung là tất cả những gì đang tích chứa trong đầu óc để đặt sang một bên.

Làm cho người học ngỡ ngàng, ngạc nhiên, sửng sốt, chấn động mạnh… với những gì mà bản thân đang ôm ấp.Người học sẽ được phá sạch tất cả những gì đang ngự trị trong đầu óc về đúng sai, tốt xấu, hơn thua, đức tin đúng, đức tin sai… để đầu óc hoàn toàn tự do. Người học sẽ trở về vị trí ông chủ của đầu óc mình.

c. Con đường thứ ba: Trồng vào khoảng không của đầu óc một cây tình yêu dân tộc để làm đà phát triển tình yêu. Khoảng không ấy chính là tính thấy vĩ đại sẽ làm cho cây tình yêu dân tộc mở ra hàng triệu con mắt để từ đó phát triển tình yêu nhân loại.Gieo ý niệm tốt lành, trồng cây tình yêu dân tộc vào trong khoảng trống mênh mang của đầu óc tự do. Giúp cho người học vừa có sự sáng suốt vừa có tình yêu căn bản trong đầu óc không còn vướng mắc gì nữa.

Lấy tình yêu dân tộc làm căn bản thì những phẩm chất tốt đẹp sẽ được triển khai và phát triển ra tình yêu đối với những dân tộc khác trên hành tinh này.Người học tới giai đoạn này thì hoàn toàn có thể tự do lựa chọn để lấy về những kiến thức, kinh nghiệm, đức tin…tất cả mọi thứ mà đã được lấy ra ở giai đoạn trước để sử dụng.

Trong lần lấy về này thì người học hoàn toàn là lấy về với tư cách của ông chủ chứ không như trước đây là thờ, là chấp…vào nó như kẻ nô lệ. Từ đó mà người học kiểm soát được tất cả mọi thứ!

Khi người học đi đúng theo con đường mà được nhắc tới ở 3 nội dung trên thì bản thân người học sẽ phát ra những sức mạnh màu nhiệm ngay chính tâm hồn của mình. Người học sẽ phát ra, tự tuôn chảy ra diệu lực bao gồm cả sức thấy toàn diện và tình yêu thương của mình. Người học sẽ từng bước, từng bước chứng kiến sức mạnh kỳ diệu này nơi bản thân mình mà cũng không có bất cứ một hiện tướng nào về tính tự cao tự đại. Người học không còn vô minh nữa mà là ông chủ về tình yêu, ông chủ về sức thấy.

Người học sẽ trở thành con người có một cuộc sống thực sự đơn giản nhất, bình thường nhất, sáng suốt, tuôn chảy diệu lực với một tấm lòng hết sức chân thành với tha nhân, hạnh phúc tràn đầy thực sự chứ không phải do ý nghĩ hoặc thỏa mãn ý nghĩ.

Từ đây người học sẽ vượt lên trên tất cả sự tầm thường trong đầu óc, bừng sáng tình yêu trong tính thấy nhiệm màu ngày càng rộng lớn, đưa ánh sáng trí tuệ dân tộc lên trên tất cả.Tóm lại, phương pháp hướng đến là chỉ đường cho người thực hành trải qua tiến trình khai phóng độ thông thoáng, cởi mở trong đầu óc làm nền tảng cho sự định tâm phát triển.

Từ đó, trí tuệ và tầm nhìn mới và sáng tạo cũng sẽ phát triển mạnh mẽ. Cuối cùng, cái đẹp nhất, điều hạnh phúc nhất là người thực hành phát triển một khả năng tình yêu rộng lớn, tình yêu bình đẳng và tự do.

4. Nội Dung Phương Pháp

Nội dung của phương pháp hay con đường giải thoát vô minh cho con người bao gồm hai phần: Pháp âm và cẩm nang thực hành.- Phần pháp âm có tác dụng làm cho đầu óc được khai thông, không còn bế tắc bởi các kinh nghiệm sống chồng chất lâu đời. Một khi đầu óc không còn bị bế tắc, bởi các kinh nghiệm, thì sẽ được phát triển theo hướng tạm gọi là trí huệ, nghĩa là sẽ mở ra cái nhìn Minh Triết hoàn hảo, không sai lầm và các lực vô hình của Minh Triết sẽ tham gia vào cuộc sống hàng ngày theo hướng tích cực, giúp các Hành giả toại nguyện những nỗ lực chính đáng của mình.

- Phần thực hành gồm các bài thực hành để tạo thói quen mới cho đầu óc. Nghĩa là, đưa đầu óc mình làm việc theo cái thấy Minh Triết chứ không theo cái thấy của kinh nghiệm nữa. Cách làm việc này, giống như ngược với logic trước đây mình sử dụng để lí sự hay giải thích về sự việc chung quanh.Nghe và thực hành cùng lúc hai nội dung trên có lợi ngay tức thời và cứ thế mà thực hành mỗi ngày, ngay lúc đang làm việc hay khi nghỉ ngơi. Trong quá trình thực hành, cần tiếp xúc, trao đổi thêm với các đồng đạo trong Đại gia đình Minh Triết, và Đạo sư Duy Tuệ khai thị, gỡ dần những chỗ quý Hiền giả còn vướng trong đầu óc kinh nghiệm.

5. Những Bí Quyết Cho Người Thực Hành

Phần này rất quan trọng, nó rất khó chấp nhận cho đa số người theo học và cũng rất khó thực hành.

Như Chư Phật đều thấy rằng những gì Chư Phật thấy nếu thuyết giảng thì chẳng ai có thể nghe, có thể hiểu, có thể chấp nhận được, bởi nó rất ngược với cái thấy của thế gian.Đạo sư Duy Tuệ chia sẻ: “Tôi nhớ xưa kia, khi được nhận thứ ánh sáng diệu kỳ chiếu soi vào đầu óc tôi, những tiếng nổ dữ dội, nhưng diệu âm liên hồi trong đầu óc tôi; những tiếng sấm sét diệu êm nhanh như phần trăm của một giây đồng hồ xảy ra, làm đầu óc tôi hoàn toàn như một mảnh đất vô tận, không một cái cây hay cọng cỏ còn trên ấy.

Rồi những khả năng nhận thức theo logic kinh nghiệm biến mất chỉ còn lại sự nhận thức đơn thuần, nằm ngoài kinh nghiệm của đầu óc.Từ trải nghiệm này, tôi khám phá ra rằng, để đầu óc còn lại là thiên đàng nguyên thủy cho định tâm, cho trí tuệ sinh động, cho tình yêu phát triển thì người học phải trải qua những thử thách gian nan nhưng đầy thú vị, giống như mình là một người mới vừa tái sinh trong đầu óc vậy”

Phần này có 2 bí quyết: một là, xóa bỏ mọi trật tự của đầu óc và hai là, tập cho đầu óc có cách làm việc mới trên các khái niệm của thế giới này.

a.Bí quyết thứ nhất: Bảy cách làm xáo trộn trật tự của đầu óc

- Không tin vào cách thấy về chính mình và về thế giới như trước đây nữa, để có sự thấy mới.

- Không tin vào những suy nghĩ và những đánh giá, những kết luận của mình trước đây nữa, để đầu óc được nghĩ ngơi và làm việc theo cái thấy mới.

- Tất cả mọi dữ liệu mà mình đã có trong đầu để tin dùng như là một thứ tài sản vô hình, thì bây giờ đừng bám vào chúng nữa, để đầu óc hoàn toàn được tự do, giống như một mảnh đất đã được khai hóa cho những cây cối mới sẽ được trồng lên, để vườn cây như là vườn Địa đàng có thể chu cấp cho nhu cầu sống hàng ngày của chúng ta vậy.

- Hãy tập nghi ngờ về logic suy nghĩ của mình đã thành vết hằn trong đầu khó thay đổi để cho đầu óc hoạt động trong một logic của tính biết tự nhiên. Loại logic này, chúng ta chưa thể viết ra được. Nó là kết quả của nỗ lực chối bỏ những thói quen cũ của đầu óc.

- Hãy tập nhìn ngược mọi thứ mà đầu óc cũ bắt mình phải theo hướng cũ của nó để khám phá những giá trị mới lạ mà ta khó nhìn thấy.

- Hãy định tâm tìm hiểu những đặc tính tinh thần của mình như là những đặc điểm tâm lý và triết lý sống riêng của mình lâu nay và làm chủ đầu óc mình hay lâu nay mình cho rằng đó là giá trị cá biệt của mình. Rồi từ đó đặt nghi vấn về giá trị thật của nó và dùng ý chí chối bỏ nó. Từ đó, những đặc tính kỳ diệu sẽ phát triển cũng giống như môi trường mới sẽ sản sinh ra sự sống mới phù hợp với nó vậy.

- Hàng ngày, “coi chừng cái đầu” liên tục để nhận biết những trở ngại của đầu óc đang làm mình khó chịu và dùng ý chí để phủ nhận những cái thấy đã đưa đến sự khó chịu đó.

- Sử dụng tên phật của mình để đánh thức cái nhìn nguyên thủy và tránh được cái nhìn từ kinh nghiệm hay kiến thức hay kiến thức từ những cảm xúc yêu thương có tính sở hữu.Nói tóm lại, phải tập nghi ngờ những sản phẩm trong đầu óc của mình và hãy để đầu óc mình tự do với những sản phẩm ấy, nhất là những sản phẩm thuộc tư tưởng. Phải tạo ra những tiếng nổ và tiếng sấm sét cho đầu óc mình để khai thoáng lại mảnh đất mầu mỡ vô tận trong đầu óc.

b.Bí quyết thứ 2: Tập cho đầu óc cách làm việc theo cách mới

Nhìn mọi sự việc và mọi sự vật như không có tên gọi, không theo khái niệm đã được loài người quy ước.

Tại sao? Vì nếu dùng tên gọi sẽ dễ đánh thức các dữ liệu cũ trong đầu sống lại và những ý tưởng, những ý nghĩ, những cảm xúc lại nổi lên, và chúng ta khó kiểm soát được chúng, đồng thời nó không cho ta phát triển sự thấy mới mẻ hơn, toàn diện hơn. Nói tóm lại, hãy nhìn sự vật và sự việc như nó đang là.

6. Lợi Ích Của Người Học Và Thực Hành

Về lợi ích thì không kể xiết và lợi ích đến ngay tức thời, đến ngay khi tập. Trước nhất và trên hết là ngay khi tập, một thực tại an lạc nội tâm sẽ xuất hiện và mọi điều kì diệu, mọi lợi ích sẽ bắt đầu từ nguồn gốc này. Dưới đây, chỉ nhắc lại một số lợi ích thô sơ hay tạm gọi là bình thường một chút, nhưng xét ra cũng cần cho mỗi người trong thời gian tập ban đầu, coi như là phần thưởng để khuyến khích mỗi người tinh tấn thực hành con đường sống Minh Triết.

a.Về sức khỏe

Trước hết và trên hết, ai cũng mong mình có sức khỏe. Lợi ích này sẽ đến ngay và sức khỏe sẽ dần được khôi phục. Một số nguyên nhân chính làm nguy hại đến sức khỏe bao gồm: cái đầu làm việc quá mức mà hiệu quả không như mong chờ. Trong trường hợp này, áp lực suy nghĩ và áp lực của các cảm xúc như buồn lo, tức giận, không toại nguyện hoặc chưa vừa ý… là nguyên nhân của các thứ bệnh hiểm nghèo như tim mạch, thận, gan, da mặt bị nám…

Nguyên nhân thứ hai là do cái đầu làm việc theo hướng tin vào kinh nghiệm mình quá mức, đến nỗi tạo ra thói quen mà bản thân không chống nổi, đặc biệt là thói quen ăn uống theo khẩu vị không còn phù hợp với tình trạng của cơ thể, điều này cũng gây ra nhiều bệnh tật. Nguyên nhân thứ ba rất quan trọng là cái đầu không thật sự bình yên, do chưa hiểu về chính cái đầu của mình nên không thể lắng nghe về toàn bộ bộ máy huyền nhiệm của cơ thể mà tạo hóa đã ban cho. Nguyên nhân này chẳng những dẫn đến bệnh hoạn cho cơ thể mà cho cả đời sống tinh thần nữa.

b.Sự may mắn cho cuộc sống cá nhân và gia đình mình

Một lợi ích mà hầu hết con người mong cầu là sự may mắn cho cuộc sống cá nhân và gia đình mình. Nói về sự mong cầu này, nhiều thì như tiền bạc đủ sống, đủ sinh hoạt ăn uống, nhà ở, học hành, bệnh viện, giáo dục con cái, đoàn kết thương yêu trong anh em, dòng họ…

Khi còn trẻ thì đầu óc còn hồn nhiên hơn nên sự may mắn tự nhiên nhiều hơn, và đó là lí do hầu hết ai cũng có một thời may trong đời. Sau một thời gian, kinh nghiệm phát sinh nhiều và con người tin vào kinh nghiệm mình, nên lực hồn nhiên của tạo hóa nơi đầu óc không còn đủ sức chiêu cảm sự may mắn nữa, và con người bắt đầu làm việc đổ mồ hôi, sôi nước mắt nhưng vẫn khó khăn, đối phó trăm bề và đầy phức tạp.Bên cạnh đó, kinh nghiệm và cảm xúc của những thế lực khác cũng ảnh hưởng đến, làm cho bản thân thêm khó khăn hơn.

Ngoài ra, sự vật, con người và hoàn cảnh luôn thay đổi mỗi giờ, mỗi ngày, trong khi đó, cái đầu lại bám lấy kinh nghiệm cũ kĩ, cứng nhắc rất tai hại.Khi nghe và thực hành các pháp âm, người học sẽ khôi phục dần tình trạng tự nhiên của đầu óc, của tâm hồn mình. Sức mạnh tự nhiên này sẽ tái tạo lại sự may mắn.

Nếu thường xuyên thực hành như vậy thì sẽ sống trong từ trường may mắn đến cuối đời. Do tình trạng cái đầu bình yên mà cái đầu sẽ phát triển trí sáng để nhìn thấy mọi việc tỏ tường, từ đây sinh ra cách ứng xử phù hợp. Đặc biệt, khi nghe pháp âm và thực hành thì cái đầu sẽ trở về trạng thái bình yên sơ khai, và tình trạng bình yên này sẽ được kích hoạt bởi nhận thức thanh tịnh của đầu óc về chính nguồn năng lực bình yên sơ khai này. Đây là một khám phá đặc biệt mà thầy trải nghiệm tình cờ, như có sự sắp đặt để rồi sau này chia sẻ cho nhân loại.

c. Lợi ích về hình thành nhân cách Minh Triết

Lợi ích về hình thành nhân cách Minh Triết hay tạm gọi là phẩm hạnh. Nhân cách Minh Triết tạm chia làm hai phần là bên trong đầu óc hay tâm hồn và bên ngoài hay phong cách, hai phần này là nhân cách hay chất lượng cuộc sống của mỗi người.Nhân cách này là sự nghiệp chân chính của Hiền giả Minh Triết, nó tạo ra một sự chiêu cảm rộng lớn có tính thế giới và đem lại nhiều thiện cảm lợi lạc cho nhân loại nói chung, cho danh dự của dân tộc mình nói riêng.Phần bên trong nói rõ hơn là gì?

Phần bên trong là nói đến bộ não hoạt động hoàn hảo, hiệu quả, chuẩn xác từ sự thấy đến các quyết định không lầm lạc.Muốn bộ não được như vậy phải thường nhận biết bốn nội dung cơ bản trong đầu óc mình là nhận biết về tính biết của chính mình, nhận biết về các ý tưởng xuất hiện khi đối cảnh hay nhớ tưởng về quá khứ, nhận biết đầu óc đang nảy sinh nhiều suy nghĩ từ ý tưởng nảy sinh này, và nhận biết các cảm xúc sinh khời do suy nghĩ này tạo ra. Sự nhận biết này sẽ giúp não trở lại tình trạng tốt hơn, ổn định hơn. Bên cạnh bốn nhận biết ấy trong mọi lúc, trong đầu phải được xây dựng một giấc mơ lớn cho quê hương, dân tộc mình được thế giới tôn trọng. Muốn vậy, phải tập phát triển tình yêu của mình với dân tộc và quê hương mình. Từ tình yêu này sẽ mở ra tình yêu lớn với nhân loại. Phải biết rằng, tình yêu từ con tim sẽ nuôi dưỡng cái đầu và như vậy cái đầu sẽ không hủy hoại con tim.

Còn phần bên ngoài là nói đến cung cách sống, cung cách hành xử, nói đến hình thức bên ngoài của mình. Do tình trạng cái đầu tốt nên mở ra sự lạc quan trên gương mặt, thể hiện qua nụ cười hòa ái, dễ gây thiện cảm chung quanh mình. Phong cách đi đứng nằm ngồi sẽ thong thả, phong độ, gây sự cảm mến và tôn trọng của mọi người khi thấy mình. Từ lời ăn tiếng nói, từ cái bắt tay cũng thể hiện sự trong sáng, tính lộng lẫy của tâm hồn. Lời nói không bao giờ tiêu cực hay ủy mị yếu đuối. Nói chung, bên ngoài là thể hiện chất liệu bên trong của cái đầu và con tim.

d. Lạc quan thường xuyên trong cuộc sống

Một cảm giác thường hỉ lạc sẽ luôn hiện hữu tạo ra sự lạc quan thường xuyên trong cuộc sống. Nó như năng lực yêu đời, tỉnh táo và sáng tạo trước mọi hoàn cảnh sao cho bản thân thường cảm thấy thoải mái hay toại nguyện với cuộc sống cá nhân và cuộc đời đầy phức tạp. Sự sáng tạo cách ứng xử với mình, với đời rất tự nhiên, không nhọc công suy nghĩ.Khác với các hình thức thiền thông thường, khác với các phương pháp định tâm hiện được biết phổ quát trên thế giới, như phương pháp thiền quán âm thanh, quán hơi thở, tập trung tỉnh thức, thực hành tài chi hay khí công, yoga… cũng tạm thời đem lại sự bình yên cho đầu óc lúc đang thực hành, nhưng sau đó, đầu óc vẫn trở lại bất an.

Trạng thái thường hỉ lạc từ Thiền Minh Triết hiện hữu được là do tính Phật sẵn có được kích hoạt theo phương pháp nhận thức, nên tác động thật đặc biệt đối với não và giúp cho đầu óc người thực hành mở ra cái thấy đa chiều với thế giới chung quanh, và đặc biệt, nó tự thấy nó và thấy biết tình trạng của đầu óc một cách rõ ràng.

Nói tóm lại, do biết cách dùng nhận thức khởi động Phật tính, nên não thường ở trạng thái hoạt động tích cực, giúp Hành giả Minh Triết thấy biết thật rõ về đầu óc mình, thấy biết rõ về cơ thể mình, thấy biết rõ về đời sống tinh thần của mình. Bên cạnh đó, người thực hành đồng thời thấy biết hay thấu rõ một cách sâu thẳm cách làm việc của đầu óc con người, và cũng hiểu được bản chất của thế giới rộng lớn chung quanh. Ba sự thấy biết này đưa đến kết quả tự nhiên là hạnh phúc, niềm vui giống như mãn nguyện hoàn toàn cuộc đời của mình. Hạnh phúc này giúp ta có cách hành xử như vừa sống trong đời lại vừa tự do hoàn toàn với cuộc đời, thật là tuyệt vời!

e. Chuyển hóa tình trạng bế tắc sang thuận lợi

Đặc biệt, trong nhiều trường hợp đương đầu với những khó khăn nan giải trong cuộc sống mà đầu óc đã tận lực vẫn không có hiệu quả và có thể nhìn thấy thất bại rõ ràng, thì Hiền giả Minh Triết sẽ biết ứng dụng sức mạnh vô hình của Phật tính phối hợp với sức mạnh tự nhiên của tạo hóa, để chuyển hóa tình hình đang bế tắc sang thuận lợi và đầu óc được trả lại trạng thái yên ổn. Cách này giống như chuyện thần thoại, chuyện mê tín dị đoan, chuyện không thể có thực nhưng là có thực và nhiều Hành giả đã trải nghiệm và kinh ngạc với kết quả êm đẹp mà đầu óc con người không thể lí giải được, chỉ thấy kết quả và biết như vậy mà thôi. Thầy thường ví lực này là Phật lực, mà Hành giả Minh Triết có được do công phu thực hành mỗi ngày.

f. Trong lĩnh vực học tập và sáng tạo của tuổi trẻ

Riêng giới trẻ thực hành Thiền Minh Triết rất nhanh chóng có kết quả! Trong lĩnh vực học tập tại trường học sẽ rất dễ đạt điểm cao và nhiều sáng tạo, bởi phương pháp thiền này rất dễ thực hành và thực hành ngay trong lúc đang học tập. Việc thực hành cũng giống như đang thực hành một việc giải trí, nên không bị căng thẳng. Tuổi trẻ không nên có thành kiến rằng, đây là một cách thực hành tâm linh của tôn giáo. Hoàn toàn không phải vậy!

Đây là cách giúp cho tính biết hay khả năng hiểu biết có sẵn tác động thật tốt lên não, làm cho não bộ hoạt động thật hoàn hảo và thường hướng về phát triển tình yêu với dân tộc mình, yêu chính bản thân mình đúng nghĩa, yêu cả nhân loại này, yêu cuộc sống sinh động và phức tạp này.Tình yêu này trong trường hợp hoàn hảo sẽ giúp trái tim phát triển mầu nhiệm, rộng lớn vô tận. Và vì vậy, trí thấy biết của tuổi trẻ sẽ phát triển không thể ngờ được.

Người tuổi trẻ thực hành phương pháp này chắc chắn sẽ phát triển trí thấy đa chiều rộng lớn; phát triển lòng trắc ẩn với dân tộc mình và với thế giới chung quanh; đồng thời phát triển lòng quả cảm cùng ý chí mãnh liệt cho cuộc sống riêng và cho dân tộc mình cùng gắn liền vinh quang với toàn nhân loại. Tuổi trẻ khi thực hành sẽ dẫn đến phát minh những giấc mơ tuyệt hảo để dẫn đường và làm động lực tích cực cho toàn cuộc đời mình. Các bạn trẻ có thể tiếp xúc với những Hành giả Minh Triết rất trẻ trong đại gia đình Minh Triết, sẽ hiểu rõ thêm và được giúp đỡ theo học.

g. Phát triển phẩm chất lành mạnh và khả năng sáng tạo lạ kì trên tri thức chuyên môn của tất cả các vị trí trong xã hội

Tất cả mọi người thực hành Thiền Minh Triết sẽ phát triển các phẩm chất lành mạnh, và những ai đang có tri thức chuyên môn trong xã hội sẽ phát triển khả năng sáng tạo kì lạ trên chuyên môn của mình. Tất cả mọi vị trí trong xã hội mà bản thân đang đứng đều được phát huy kết quả đẹp nhất, do việc thực hành này giúp cho con tim và cái đầu của Hành giả luôn hoạt động trong tình yêu thương rộng lớn và vô điều kiện.

h. Lợi ích cho sự ra đi nhẹ nhàng của người già

Tuổi già thường hay có những cảm xúc lo lắng, băn khoăn khi đối diện với cái chết, lo lắng cho những người ở lại hay những ý tưởng, hoài bão của mình. Khi nghe những pháp âm sẽ ngộ ra đời sống tâm linh thật của mình sẽ trút bỏ những nghi ngờ ngộ nhận từ trước dẫn đến chấm dứt các ý tưởng ảo huyền, chấm dứt các ý tưởng ham muốn do chưa hiểu biết đời sống tâm linh chân thật. Khi nhận thức làm việc trong điều kiện đầu óc thanh tịnh sẽ giúp nhận ra những điều chân thật và tập xả bỏ mỗi ngày. Bên cạnh nghe pháp âm, người lớn tuổi thực hiện phương pháp quán hơi thở, quán cảm xúc và suy nghĩ, lắng nghe cơ thể, sẽ dẫn đến phá tan lòng chấp, phá tan những ký ức sâu dày sẽ giúp cho quý vị tận hưởng những ngày tháng êm đềm cuối đời với cảm xúc yêu thương thuần khiết. Họ ra đi thanh thản, nhẹ nhàng trong vinh quang sau một cuộc đời làm người.

Xem tiếp tại Phương pháp Thiền Minh Triết Duy Tuệ tới Hội thảo khoa học Minh Triết và Minh Triết trong kinh doanh - (Phần II)

Một tư tưởng dẫu là xấu xa nhất, được trình bày bằng một phương pháp lập luận tồi tệ nhất, vẫn cần phải được bẻ gãy bằng tư tưởng đúng đắn, bằng cách tư duy hợp với logic hình thức và logic thực tiễn, không nên bị tấn công bằng bất kỳ điều gì khác.

Mỗi một cách nhìn thế giới đều tương tự một cái ống nhòm, một mặt, tạo ra một “trường nhìn” giúp cho người tư duy có thể nhìn thấy rất kỹ một góc nhìn mà ống nhòm cho phép thấy, và mặt khác, tạo ra một “trường mù”, khiến người ta bị che khuất trước phần còn lại của thế giới. Để đi đến chân lý, do đó, cần tối đa hóa các trường nhìn mà mình có thể lĩnh hội được.

Đòi hỏi mỗi con người ý thức được tính tương đối của mỗi cách nhìn thế giới. Mỗi một cách nhìn thế giới đều tương tự một cái ống nhòm, một mặt, tạo ra một “trường nhìn” giúp cho người tư duy có thể nhìn thấy rất kỹ một góc nhìn mà ống nhòm cho phép thấy, và mặt khác, tạo ra một “trường mù”, khiến người ta bị che khuất trước phần còn lại của thế giới. Để đi đến chân lý, do đó, cần tối đa hóa các trường nhìn mà mình có thể lĩnh hội được.

Vì vậy, người ta không chỉ cần đến sự phản biện như một phương thức tiếp thu trường nhìn của kẻ khác, mà còn cần phải tự mình đối thoại với trường nhìn cố hữu của chính mình. Khả năng tư duy của mỗi con người, như vậy có nghĩa là, tùy thuộc vào khả năng mở rộng các trường nhìn. Trường nhìn càng phong phú, năng lực thức nhận thế giới càng mở rộng. Ngược lại, giam hãm mình một trường nhìn duy nhất là bản chất của tính ì tư duy.

Do đó, trong tranh luận, khi “thua” thì chính là lúc người ta đã thắng, bởi đó là lúc họ chạm được một trường nhìn khác, để khai mở thêm khả năng tư duy của chính mình.

Với tinh thần khai sáng của triết học cổ điển Đức, họ biết tôn trọng tự do tư duy của chính mình và của người khác, can đảm trong suy nghĩ, trong phán xét và lựa chọn, lĩnh hội niềm tin bằng lý trí, với ý chí tự do trước quyền lực, tôn giáo, tập quán hay những loại áp lực tương tự.

Mặt khác, tôn trọng chữ ”Tình”, nhưng khi tranh luận, người Việt dễ dàng bị chìm vào những cãi vã và mạt sát, theo kiểu mà dân gian thường nói là “Lời nói đọi máu” .

Khi tranh luận, người ta không thể tranh luận với một cảm xúc, mà chỉ có thể phân tích những quan điểm, những luận chứng và dẫn chứng của nhau. Do đó, khi nào cảm xúc bùng nổ, đó là lúc tranh luận biến mất, chỉ còn lại sự phỉ báng lẫn nhau.

Sự duy cảm sẽ làm cho những thiên kiến trở nên vững chắc. Thiên kiến là cái người ta tin bất chấp thực tế, bất chấp bằng chứng, bất chấp lý tính. Do đó, không ai có thể tranh luận được với những thiên kiến. Thiên kiến là cái không ai có thể giúp chúng ta gỡ bỏ được, trừ chính bản thân chúng ta.

Và nền tảng sâu xa nhất của thiên kiến là “ngã chấp”. Ta từ đâu? Ta là ai? Ta về đâu? Là những câu hỏi có tính bản thể luận mà nếu lãng quên, con người sẽ trượt ra khỏi con đường của lý tính.

Nhật Bản thời Minh trị duy tân cung cấp những bài học lớn về quan hệ giữa “ngã chấp” và văn hóa dân chủ.

Được thấm đẫm tinh thần “phá chấp” của Phật giáo, những đại lãnh chúa, tức là những con người nòng cốt duy trì chế độ phong kiến cũ, nhận thức được rằng mình sinh ra từ “Không” và sẽ trở về “Không”. Do đó, họ không đồng nhất mình với bất kỳ một hệ hình nào. Đối với họ, dẫu là “địa chủ” hay “tư sản” thì đều không quan trọng. Đó chỉ là cái “giả tướng” (hình thức bề ngoài) của “cõi tạm trần gian”.

Nhờ thế, tầng lớp thượng lưu Nhật nhanh chóng phủ định chính cái vỏ bề ngoài của mình, dẫn dắt dân tộc đi vào cuộc canh tân thần kỳ. Họ không chỉ tiến hóa để thích ứng với bối cảnh mới, mà còn tạo ra chính bối cảnh mới ấy, thúc đẩy toàn xã hội tiến hóa theo.

Để đến được những bến bờ xa nhất, chúng ta phải tiến hóa thành loài có mang; để bay đến những chân trời rộng nhất, chúng ta phải tiến hóa thành loài có cánh.

Tranh luận là  một năng lực văn hóa. Văn hóa là cái không thể hình thành qua việc đọc sách hay nghe tuyên truyền, mà cần được “vun trồng” trong thử thách thực tế, cần được rèn luyện để trưởng thành.

Lược trích từ  bài
Bỏ quán tính thời chiến trong ra quyết sách
của tác giả: Nguyễn Lương Hải Khôi

Bài đã được xuất bản.: 26/08/2010 06:00 GMT+7

http://tuanvietnam.net/2010-08-25-bo-quan-tinh-thoi-chien-trong-ra-quyet-sach

Tuệ Giác Việt Nam

1. Tôi nói không biết đúng hay sai
Chưa lần nào tôi tìm thấy có bài viết nào nói về tuệ giác Việt Nam.

2. Việt Nam có điểm nổi bật là gì?
Thứ nhất là mở mang bờ cõi và thống nhất đất nước, dân tộc.
Thứ hai là chiến thắng các quân xâm lược hung hăng nhất thế giới.
Thứ ba là từng bước phát triển về kinh tế, chính trị, an sinh xã hội và nhân phẩm con người.

3. Dĩ nhiên trong quá trình lịch sử ấy cũng có thế này thế khác
Nhưng cái tiến bộ lấy quyền lợi dân tộc làm mục tiêu sống ấy là điều cơ bản nhất.

4. Ấy là những giá trị của bề nổi
Còn giá trị vô hình mang tính phi vật thể nữa
Như các di sản văn hoá, tư tưởng.

5. Một số di sản tinh thần như
Lòng yêu tổ quốc nồng nàn, đoàn kết thương yêu nhau
Tư tưởng tổ quốc thống nhất, dân tộc thống nhất
Đặc biệt là tinh thần dung hợp văn hoá, dung hợp triết học,
dung hợp tư tưởng để phục vụ dựng nước, giữ nước và phát triển đất nước.

6. Cái gì tạo nên những tài sản khổng lồ và chắc chắn bền vững ấy?
Phải chăng đó là TUỆ GIÁC VIỆT NAM.

7. Cái ấy rất khó thấy vì không thành văn tự
Cái ấy rất khó thấy vì nó không thuộc về một sức mạnh cụ thể nào.
Cái ấy rất khó thấy vì nó không thuộc tri thức nên không tổng kết được.
Cái ấy bao hàm và chi phối mọi lực lượng.
Cái ấy nằm lên trên tất cả mọi lực lượng có thể nói được.
Cái ấy là sức sống chung của cả dân tộc
Và cũng là phật tính của tổ quốc.
Khi tổ quốc có nhu cầu
Nó thường xuất hiện ở một số con người gọi là anh hùng dân tộc.
Vì vậy mà Việt Nam có rất nhiều anh hùng dân tộc.

8. Đất nước trải qua nhiều thăng trầm thì cái ấy càng hiển lộ mạnh hơn
Cái ấy chỉ có thể được trực nhận qua thiền quán
Và tự biết mà khó nói ra bằng lời.
Cái ấy là ân huệ lớn của giống Việt
Tôi nghĩ rằng, cái ấy luôn được tôn thờ trong tâm của mỗi người Việt Nam.
Đó là: TUỆ GIÁC VIỆT NAM!

22/03/2002

Trích trong cuốn sách Những Điều Dạy Về Phật của Trần Nhân Tông. Tác giả : Đạo sư Duy Tuệ. Nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin tái bản và bổ sung năm 2009

Em bé tại phố Bùi Thị Xuân – Đà Lạt : Hai tuổi với phía trước ngày càng rạng rỡ !



Cuộc sống thật nhiều con người bất hạnh, những cuộc sống “ngày và đêm là một”. Lòng ta đau khi nhìn thấy những “dấu chân chim” lang thang trên những con đường, ngõ nhỏ… Cuộc sống ơi, ta ước gì sẽ không còn những mảnh đời bất hạnh nữa. Bình minh hãy xóa tan tất cả, để chung tay xây đắp cuộc đời… những ước mơ, hoài bão. Tất cả việc tôi cần làm… đã thôi không còn thực hiện được nữa!

Linh hồn tôi trên cao nhìn xuống thân xác kia, nước mắt lã chã rơi, bỗng chốc hóa thành khói sương… tan biến vào hư không! Những ký ức, kỉ niệm… xin cất giữ nơi người ở lại… Tôi thật lòng xin lỗi thế giới, vì sự ra đi vĩnh viễn!

Có một lời khuyên rằng, hãy sống như hôm nay là ngày cuối cùng của bạn. Đúng lắm, nếu biết còn có ngày mai, ta sẽ chần chừ, chờ đợi, thoái thác…

Nếu quả thật không còn có ngày mai, anh chẳng còn ngại ngần gì để không chạy đến tỏ tình với em, nắm lấy bàn tay ấm áp đấy, thật chặt một lần!

Nếu quả thật không còn có ngày mai, con chẳng còn e dè gì mà không tỉ tê tâm sự, khóc lóc một trận cho thỏa với bố mẹ.

Nếu quả thật không còn có ngày mai, tôi chẳng còn sợ sệt gì, để không thổ lộ hết những lời dấu kín trong lòng: tôi yêu trái đất… yêu mọi người… yêu vô tận và vô điều kiện…!

Nếu quả thật không còn có ngày mai, tôi sẽ cố gắng hết sức làm tất cả việc của đời trong một ngày. Sau đó, tôi sẽ ra đi nhẹ nhàng và thanh thản!

Mọi người có thể tiễn đưa tôi, nhưng xin đừng ra đi cùng tôi. Cầu Nại Hà như cái cầu khỉ vậy, không sóng đôi bước qua được đâu…Và…Thế giới vẫn ơ thờ tiếp diễn, trái đất vẫn lặng lẽ quay. Thời gian không vì tôi mà dừng lại, bố mẹ đừng vì tôi mà đau lòng, đừng ai vì tôi mà khóc…



Tôi sẽ bước sang thế giới khác, sạch sẽ hơn, lộng lẫy hơn, bình an hơn… ở đấy, tôi làm bạn với người ngoài hành tinh.Ôi…Có những đêm trằn trọc, bâng khuâng, không ngủ được, thấy con người thật nhỏ bé. Tồn tại để rồi ra đi.Mãi mãi…!Quan trọng là để lại được gì!?



Thư tạm biệt cuộc sống

(Trích Nụ cười ở lại – Nguyễn Hồng Công) 

1.“Dù trong hoàn cảnh nào mỗi một người cũng có thể phát huy khả năng của mình tới tối đa – Hình ảnh bức tượng Đức Phật Thích Ca trên toàn thế giới đều ngồi trong tư thế nhắm mắt mà thấy biết tất cả với trí thấy vô biên – đó là thông điệp mà chúng ta nhận thấy rằng người khiếm thị có khả năng nhìn thấy bên trong rất lớn, tức là có khả năng tập trung rất lớn cùng với một trái tim nhạy cảm phối hợp với các giác quan (con mắt khác) trên cơ thể cho cái đầu bừng sáng mà không phải nhìn qua con ngươi!”

2.“Phong cách sống cho người khiếm thị để được bình an và hạnh phúc là luôn quan sát sự suy nghĩ, kiểm soát các cảm xúc, kiểm soát các thói quen không tốt cho sự bình an trong đầu óc, không chấp nê vào ý nghĩ chủ quan, không còn mặc cảm hay hiểu lầm về những khái niệm “nghiệp – quả” mà dựa vào sự quan sát và lắng nghe, để con người luôn sống an tâm, luôn bừng sáng trong tâm hồn, tỏ tường mọi việc, sử dụng chính nghịch cảnh để phát triển tình thương và khai mở trí thấy rộng lớn… từ đó sống có lợi ích và thực hiện những ước mơ tốt đẹp.

3.“Đời sống cơ thể thiếu hai con mắt để nhìn thấy màu sắc nhưng đã được thay thế bằng những giác quan khác như thấy qua nghe, thấy qua ngửi mùi, thấy qua xúc giác…để tiếp xúc với bên ngoài giúp cho người khiếm thị sự thấy – biết. Từ sự thấy biết này cho người khiếm thị những sự quyết định và những cảm xúc buồn vui. Do vậy, người khiếm thị cần tập làm sao để phát huy khả năng tập trung sẵn có rất cao để phát triển khả năng của các giác quan khác mà giúp đầu óc mình phát triển khả năng nhìn thấy rộng lớn từ bên trong.. Người càng tập trung cao thì càng có cuộc sống an toàn. Rất nhiều người khiếm thị trở thành những nghệ sỹ tài ba vì họ làm việc hết sức tập trung. Họ hát bằng con tim, họ thấy từ tình yêu nữa, tình yêu với con người và dân tộc. Họ có sự nhạy cảm của con tim – đó là ân huệ của trời đất đã ban cho người khiếm thị khi con tim làm việc nhiều hơn đầu óc! Khi con tim làm việc càng nhiều thì cái đầu càng êm dịu, càng tập trung và càng phát ra cái thấy nhiệm màu của tình yêu – bớt đi những suy nghĩ lung tung.

4.”Người khiếm thị hiếu học, tập trung vào việc phát triển khả năng theo một con đường lâu dài để trở thành người có trình độ chuyên môn cao thì sẽ có được rất nhiều người có khả năng hỗ trợ.

Khi người khiếm thị có đủ tài năng để biểu diễn tâm hồn của mình thì chẳng những đón nhận cuộc sống ổn định mà còn đem lại sự hài lòng rất lớn cho người cảm nhận vì năng lực này được truyền ra từ con tim.

Người khiếm thị nên dùng ngôn ngữ, âm điệu riêng của mình để diễn đạt cái thấy của tình yêu, diễn đạt cảm xúc yêu đời của mình sẽ dễ làm rung động con tim của người sáng mắt. Và như vậy, người khiếm thị có quyền tự hào về những nỗ lực của mình góp phần vào đời sống cộng đồng – tăng phần ý nghĩa cuộc sống cho nhiều người.

5.”Tài năng của một con người không phải nằm trong việc sáng mắt hay không sáng mắt mà bí quyết nằm ở chỗ người đó có quyết tâm, có tha thiết chọn cho mình một mục tiêu duy nhất để luyện tập, để học hành, để tìm thầy dạy…và tìm mọi phương cách khác cho việc học ấy. Người khiếm thị không có lý do gì để mặc cảm ngoài việc mình không chịu khó học và thực hành để phát triển tài năng của mình.”

6. “Cực chẳng đã mới cần nhận sự giúp đỡ của người khác, người khiếm thị nên thay đổi lại chiều hướng trong đầu óc – không phải đặt mình vào trong hoàn cảnh đau khổ để chờ người khác giúp đỡ mà cần biết vui vẻ – tự hào tiếp nhận sự giúp đỡ của người khác khi nỗ lực làm việc tốt cho bản thân, cho gia đình, cho xã hội. Vì thiếu điều kiện nên cần sự giúp đỡ của người khác để tiếp sức với mình. Đó là nhận sự giúp đỡ trong vinh quang chứ không nhận sự giúp đỡ trong nỗi đau tuyệt vọng. Nếu chúng ta vẫn cứ tiếp nhận sự giúp đỡ như những người khổ đau thì không thay đổi được cuộc đời mình và không có hạnh phúc trong khi khả năng từ đầu óc và con tim sẵn có bên trong mình để đem lại sự thay đổi cuộc đời còn rất lớn.”

7.” Người khiếm thị hay nghĩ tới thân phận. Do vậy, cần có ý chí, sự tỉnh táo và thông minh để phát huy sức mạnh của mình. Ý chí chỉ mạnh khi lòng yêu thương đủ mạnh. Do vậy cần phát sinh lòng thương, tập thương mình, thương người ví dụ như là việc cầu mong sự tốt đẹp cho mình, cho gia đình, cho những người giúp đỡ mình, cho việc học tập của mình ngày càng tiến bộ cùng với việc học và thực hành phát triển sự hiểu biết và nhận ra những khả năng sẵn có của mình, phát triển chuyên môn, phát triển các khả năng đặc biệt trong đầu óc, phát triển sự thông cảm, phát triển những phẩm hạnh của mình.”

Trích từ những bài nói chuyện của Đạo sư Duy Tuệ với người khiếm thị.

1.Bất kì người nào, từ nhỏ cho đến lớn rồi đến già thì không ai có thể bỏ niềm vui riêng của mình. Niềm vui riêng của mỗi một người thì lại khác nhau mà chúng ta có thể gọi đó là niềm vui nội tâm. Niềm vui nội tâm, liên quan đến hành động mà không phải đến từ sự nghỉ ngơi hoàn toàn hay ngồi thiền. Niềm vui cơ bản của một con người là thông qua lao động, làm việc. Công việc không những là nhu cầu để kiếm ăn mà đó là niềm vui riêng. Cho nên, khi làm việc thì vui, còn không làm việc thì không vui. Nếu không có niềm vui riêng trong nội tâm thông qua một việc thì họ khó mà sống được…Ví dụ, một người có niềm vui riêng là ngồi thiền nên họ ngồi suốt đời. Đó cũng là một loại niềm vui.

2. Đã là một con người thì có đời sống tâm linh rất đặc biệt, khác với loài vật. Cho nên, không thể suy nghĩ đơn giản chỉ có phụng dưỡng cha mẹ đầy đủ vật chất là họ sung sướng, khỏe mạnh, thỏa mái tinh thần.

3. Việc đầu tiên mà chúng ta cần phải làm là quan sát để thấy đời sống tâm linh của cha mẹ mình. Thông thường thì khi chúng ta nhìn người khác thì lại không thấy đời sống tâm linh của họ mà lại thấy họ qua kinh nghiệm của mình. Ví dụ như chúng ta thấy cha mẹ mình là người già thì phù hợp nhất là ở nhà trông nhà hoặc chơi với mấy đứa nhỏ cho vui, không cần phải lo làm ăn…Như vậy, thật ra chúng ta thấy chúng ta mà tưởng là chúng ta thấy cha mẹ mình. Bởi vì chúng ta đã thấy họ qua kinh nghiệm, ý nghĩ của mình rồi đem ý nghĩ  áp dụng lên cái thấy đó. Như vậy, rõ ràng là chúng ta thấy mình mà không thấy ai.

4. Mình thấy người ta là thấy mình hay mình yêu người ta là yêu mình! Mình thấy mình, yêu mình, rồi giải quyết chuyện thấy từ ý muốn… hay để giải quyết ý muốn của mình… Như vậy là giải quyết toàn bộ chuyện của mình mà không liên quan đến người khác nhưng mình lại bắt người khác phải tham gia vào giải quyết ý muốn của mình và mình luôn cho đó là đúng. Mình bắt cha, mẹ phải tham gia vào ý nghĩ đó để thỏa mãn mà mình lại nghĩ là thỏa mãn cho cha, mẹ.

Thấy mình, nghĩa là thể hiện toàn bộ cái nhìn trên con mắt bằng toàn bộ ý nghĩ của mình và giải quyết chuyện của người ấy bằng toàn bộ bằng ý nghĩ. Bởi vì, khi quý vị thấy họ không rõ ràng, không thấy họ một cách vô tư hồn nhiên từ trong tỉnh thức hay không phải ở trong tâm vô nhiễm mà thấy họ trong quá trình suy nghĩ tiến hành, vận hành. Cho nên, áp đặt giải pháp cho họ theo ý nghĩ của mình mà lại cho là đúng. Nếu họ không nghe thì cho rằng mình bất hạnh, mẹ mình bất hạnh…

Qua đó, quý vị thấy sự nguy hiểm của suy nghĩ. Thấy cha, mẹ không bằng lòng với suy nghĩ, cái nhìn của mình thì nghĩ, kiếp trước mẹ kém tu nên kiếp này hành hạ mình. Bởi vì, ngay chính bản thân cũng không giải quyết được chuyện của mẹ nên thấy mình đau khổ. Như vậy, toàn bộ chuyện khổ đau này là chuyện không có thật nhưng do ý nghĩ đã xây dựng lên một cảnh khổ đau, khung cảnh khổ đau, rồi mẹ mình tiền kiếp khổ đau, kém tu và mình khổ đau vì không giải quyết được chuyện của mẹ.

5. Hiện nay, có hàng triệu triệu con người vẫn bám vào những câu niệm để giải quyết cuộc sống, tinh thần của mình. Chúng ta rất đau lòng khi thấy như vậy nhưng chúng ta không biết làm sao để giúp họ. Nếu thấy mọi việc rõ ràng thì tự nhiên sẽ có giải pháp giải quyết. Nếu thấy sự việc không rõ ràng, dù có niệm mà răng rụng hết, miệng sưng, thân thể rã rời thì cũng không giải quyết được…Như vậy, có đốt hết 10 tấn nhang, ngồi cả đời trong chùa cũng không giải quyết được nếu thấy sự việc không rõ ràng.

6. Làm sao để quan sát thấy rõ ràng?

Chúng ta ít khi nào giải quyết chuyện theo đúng hoàn cảnh và nhiều khi bí lắm phải chấp nhận, còn thông thường là giải quyết theo ý mình muốn.

Chúng ta phải quan sát mà không được đánh giá, đem kinh nghiệm của mình vào quan sát mà phải quan sát một cách hồn nhiên. Phải quan sát hết tất cả như về tuổi tác, thói quen, đời sống tâm linh, sức khỏe, điều kiện sống và đặc biệt nhất là quan sát về đời sống tâm linh của họ.

Quý vị phải tập nhìn bên trong, bên dưới hình tướng để thấy rõ tất cả các thế giới mà bên dưới hình tướng chứa đựng. Bên dưới hình tướng hữu tướng thì có một hình tướng vô tướng và bên dưới hình tướng vô tướng mới thật sự là vô hình tướng.

Niềm vui của người lớn tuổi mà mình nói họ đi tu mà diệt niềm vui !! Thật  ngu xuẩn đến mức mà dạy họ là tu để diệt niềm vui đi!! Nếu quý vị có đắc đạo, đắc quả hay đắc gì đi nữa nhưng quý vị không thể nào bỏ niềm vui riêng của mình được. Bởi vì, quý vị mang thân con người nên niềm vui trong nội tâm mới chính động cơ giúp họ có làm cho đời việc gì đó hay là không, có nên ở lại với đời ngày nào nữa hay không. Tóm lại, niềm vui riêng là một chất sống rất đặc biệt, mang tính riêng của con người mà loài vật không thể có được.

Có những người làm tự thiện suốt đời, hi sinh tất cả như mẹ Teresa nếu không có niềm vui riêng trong việc hi sinh cá nhân để làm từ thiện giúp đỡ người nghèo, khổ đau thì bà ấy không thể làm được.

Thành ra, chuyện quý vị bắt người già ở nhà chơi với cháu hay coi nhà để mình nuôi thì đó không phải niềm vui của họ. Cho dù, họ sống trong nhung lụa thì cũng không phải niềm vui. Quý vị xây nhà thật đẹp, sắm đủ thứ rồi đón mẹ về và mua ti vi hiện đại nhất cho mẹ xem, rồi nói mẹ ngồi đó hưởng cuộc đời. Như vậy, đó không phải niềm vui của họ.

Có rất nhiều người giết tinh thần cha mẹ mà vẫn không hài lòng. Tức là buộc cha mẹ mình phải sống như thế này, thế khác theo ý mình mà họ không được thỏa mãn niềm vui của tuổi già. Khi họ già cần sống riêng thì đó là chuyện rất tốt mà hoàn toàn không sai chút nào.

Thành ra, chuyện thương không phải chỉ thể hiện qua ở chuyện sống và họ tới đó là hết nhiệm vụ…Nếu con cháu tạo điều kiện thì nên cho cha mẹ ở riêng nhưng phải ở gần mình để khi có việc gì còn chạy qua, chạy lại. Như vậy, không mắc mớ gì mà bắt cha mẹ ở với mình rồi đi tới, đi lui cho sướng, thỏa mãn sự yên tâm mà không phải đáp ứng niềm vui của cha mẹ. Cũng như việc quý vị bắt con mình thành bác sĩ là để thỏa mãn nhưng lại nói lo cho con. Và con quý vị không thích làm bác sĩ mà muốn làm nhà văn và niềm vui của nó không phải làm bác sĩ. Cho nên, quý vị đừng đem niềm vui, ý nghĩ của mình áp đặt lên người khác.

Chúng ta phải lấy chuyện an tâm, làm cho tâm hồn vui là chính mà không phải lấy chuyện hình thức bên ngoài là chính. Chính sự an vui của cha mẹ là gia trì cho con cháu. Nếu cha mẹ già sống bình an, lúc nào cũng thấy vui trong tâm hồn dù có không làm gì cho con cháu đi nữa thì niềm vui ấy chính là cái đức rất lớn và vô hình cho con cháu.

7. Vì cha mẹ bây giờ không phải là cha mẹ thuần tuý của một chúng sinh mà cha mẹ vừa là một chúng sinh, vừa là một con người tâm linh bên trong mà các con chưa đủ sức để hiểu con người tâm linh của mẹ.

Thành ra, cha mẹ phải tập nói trên hai cương vị khác nhau. Cương vị thứ nhất là cương vị của người làm cha mẹ, làm ông bà nội, ông bà ngoại và cương vị thứ hai cương vị của một người đang tu học, khai mở nội tâm như một vị bồ tát, vị phật và mỗi quý vị cũng đều có. Chúng ta có thể hiểu như việc cha mẹ sinh con ra mà không sinh tính, nết được. Như vậy, mỗi người có một đời sống tinh thần riêng.

Điều may mắn của con người là được khai mở tâm trí, kiểm soát tâm hồn và khai mở tâm hồn. Như vậy, được gọi là khai mở thế giới tâm linh riêng của mình. Về mặt xác thịt, hình tướng thì vừa là cha mẹ, ông bà nội, ông bà ngoại và nói chuyện với các con, các cháu trên tính cách của hình tướng. Nhưng cũng phải luôn luôn nhớ và phải nói cho con, cháu biết là mình có con người thứ hai là con người tâm linh. Và con người tâm linh thì không phải là cha mẹ, ông bà nội, ông bà ngoại mà là một vị bồ tát, vị phật.…

Mỗi người đều có đời sống tâm linh. Nếu một khi sự minh triết bên trong khai mở thì đời sống tâm linh của người ấy sẽ hoàn hảo và đời sống tâm linh là bất tử, không chết. Còn đời sống của người làm cha mẹ, ông bà nội, ông bà ngoại là đời sống hình tướng thì sẽ già và chết. Mặc dù đời sống chúng sinh già nhưng khi đời sống tâm linh mở ra thì sẽ trẻ lại, tươi mát, khai mở lại. Nếu càng ngày minh triết, đời sống tâm linh càng mở thì nó sẽ càng phong phú thì quý vị sẽ nhận ra con người thật của mình, một con người bất tử. Khi bỏ xác thân là chúng ta bỏ xác thân của một con người chúng sinh thôi còn con người của đời sống tâm linh là trở về với sự nhiệm màu của vũ trụ. Đó là cái gốc mà từ đó chúng ta ra đi. Nói đến vũ trụ là vô tận, vô biên, không biết chỗ nào. Chúng ta tạm dùng cái chữ vũ trụ để chỉ ra cái gốc của chúng ta ra đi là vô hình, vô định, vô tận, không có hình tướng. Chúng ta sẽ trở về nguyên trạng trạng thái đó.

8. Kinh nghiệm của đầu óc chúng ta sẽ làm cho con mắt bên trong không mở được ra. Chúng ta tạm dùng từ là con mắt bên trong hay là đời sống tâm linh. Ví dụ như khi quý vị biết mình đang suy nghĩ thì đó là sự hiện hữu của đời sống tâm linh. Khi quý vị suy nghĩ, buồn thì quý vị biết đang suy nghĩ buồn, vui thì quý vị biết đang suy nghĩ vui. Cái sự biết ấy là biểu hiện rõ nét nhất của đời sống tâm linh của mỗi chúng ta. Còn nếu hỏi cái biết đó ở đâu, nó nằm trong con mắt hay trong trái tim, nằm trong đầu người hay nằm bên ngoài người, nó nằm ở đâu thì không trả lời được. Nếu nói là nó nằm bên trong con người của mình thì nó phải thấy rõ hết bên trong, từng tế bào, mạch máu, từng khúc xương nhưng mà nó không thấy được như vậy. Cho nên, quý vị chỉ cần biết tới đó thôi, là nó có nhưng mà không chỉ được nó nằm ở đâu. Vì vậy, mới gọi nó là tâm linh, vô hình vì không thấy nó được, chỉ không ra. Nhưng mà rõ ràng, khi quý vị suy nghĩ, buồn thì nó biết mình đang buồn, đang nghĩ và đang bế tắc. Quý vị thấy nó như vậy là đủ rồi. Quý vị cứ ngồi hồi tưởng lại nó mãi rồi thấy lạ quá, không biết nó nằm ở đâu. Cứ nghĩ về nó là quý vị sẽ sáng ra.

Khi quý vì nhìn thấy tâm linh, đời sống tinh thần, niềm vui riêng của người khác thì quý vị tạo điều kiện và chỉ ra cho họ sống với điều đó thì tuyệt vời lắm. Quý vị phải tập để thấy được những điều đó!

9. Quý vị thấy rõ ràng là tình yêu của người cha và người mẹ vượt ra khỏi giới hạn biên giới, vượt ra khỏi sự ràng buộc màu da, sắc tộc và chủng tộc. Và nó vượt ra khỏi tất cả kinh nghiệm kiến thức, vượt ra khỏi giới hạn tôn giáo, các triết thuyết, các triết lí và các quan niệm sống. Mà tình yêu ấy cũng chẳng dính gì đến kiến thức, chẳng dính gì tới đức tin trong tôn giáo, chẳng dính gì đến truyền thống, đến văn hóa cả… Tình yêu ấy là một cái gì đó thiêng liêng và hết sức đặt biệt. Và có lẽ, chỉ khi người mẹ đẻ người con ra thì sự thiêng liêng ấy mới hiện ra, chỉ khi người con xuất hiện thì sự thiêng liêng ấy mới hiện trong người mẹ và người cha. Còn khi chưa có hình ảnh của người con thì sự thiêng liêng này chưa hiện, tức là nó đã có sẵn nhưng chưa hiện. Và sự thiêng liêng này không hề liên quan tới tất cả những thứ mới trình bày ở trên. Nhưng từ tôn giáo, triết học, chính trị, văn hóa, nghệ thuật… tóm lại là tất cả đều có khuynh hướng dựa vào sự thiêng liêng đó trong mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái để làm đẹp cho tôn giáo, chính trị, văn hóa, triết học… chứ không phải những lĩnh vực này làm đẹp cho tình yêu thiêng liêng ấy.

Vẻ đẹp của tình yêu cha mẹ đối với con cái thuộc về trái tim. Tình yêu đó bắt nguồn từ trái tim nên tất cả các thế lực khác phải dựa vào để làm đẹp cho mình. Đó là điểm đặc biệt trong tình yêu của người mẹ và người cha đối với con cái!

Trích từ những bài giảng của Master Duy Tuệ cho những người học trò về việc Báo hiếu.